Lâm Thủy Đăng Sơn


5

Ngôn từ, chữ viết không làm ra những công trình kiến trúc nhưng nó dẫn người ta đến những phối cảnh, giấc mơ lớn và đẹp đẽ hơn.

Nhà tôi ở cách hồ Gươm gần 5 cây số. Hơn 10 năm nay, gần như sáng nào tôi cũng lên đây. Không đi ô tô, xe máy, xe đạp thì đi bộ. Lên bờ hồ không chỉ đi bộ vài vòng hay tập dưỡng sinh để cơ bắp chắc khỏe. Dẫu sao nó còn ít tù đọng hơn ối chỗ khác. Tuy không khí tập thể dục buổi sáng ven hồ Thủy Quân hôm nay của đám thị dân lớp dưới vẫn vương vất tinh thần, hình ảnh nhếch nhác, khốn khổ của một trại lính. Nhưng nước hồ Lục Thủy không sẫm màu một cách đang ngờ như hồ Bẩy Mẫu. Gió hồ Hoàn Kiếm thì chắc chắn không tanh tanh như ở hồ Trúc Bạch.

Sau khi thả bộ, từ ven hồ chỉ cần mấy bước chân là tôi có thể sà vào một gánh bún đậu ở phố cũ của người Việt hay thả mình trong một quán cà phê sang trọng trong lòng khu phố cũ của người Pháp. Hôm nào nhiều nhã hứng thì ghé qua Nguyễn Xí tìm mua vài cuốn sách mới. Thế cũng là quá thanh nhã…

1

Sau nhiều năm gắn bó với Hồ Gươm, tôi hiểu rằng tâm điểm không gian huyền thoại này chính là đền Ngọc Sơn. Đó là cánh cửa lớn của mỗi ngày, là “thần đạo” để tiếp cận một trong những di sản kiến trúc truyền thống đáng kể nhất của tộc người Việt.

Nhận thức ra điều đó là một lộ trình khó khăn. Hồi bé thì chỉ nhớ vài câu thơ của anh Trần Đăng Khoa:

Hà Nội có hồ Gươm

Nước xanh như pha mực

Bên hồ ngọn Tháp Bút

Viết thơ lên trời cao.

Lớn lên một chút thì đọc những câu thơ buồn của bà Huyện Thanh Quan:

Lối xe ngựa cũ hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguệt

Nước còn cau mặt với tang thương

89

Cách đây 14 năm, ngày mới làm báo ở Hà Nội, anh Nguyễn Huy Thiệp dặn dò: muốn viết hay thì chịu khó qua đền Ngọc Sơn mà hương khói!

Khi vợ sắp đến nhà hộ sinh thì cũng mê cuống đi đến đền Ngọc Sơn kỹ lưỡng hơn một chút để xin các cụ “gợi ý” cho cách đặt tên con. Tới lúc con đi học ở trường Nguyễn Siêu mới hớt hơ hớt hải tìm đọc thêm một vài cuốn sách để biết đến công lao của người dựng tháp, sửa cầu, cất đền.

Căn bệnh mù chữ Hán cũng đã tiếp tay cho thói quen lơ mơ với quá khứ, hời hợt trong lối tiếp cận kiến thức văn hóa. Cũng như hầu hết mọi người, tôi chỉ nhớ hai đại tự Phúc- Lộc to uỳnh ở cửa đền, “Tả thanh thiên”- viết lên trời xanh; Thê Húc- đón nắng buổi sớm; Đắc nguyệt lầu- lầu đón trăng. Ba đình- chắn sóng. Phong nguyệt- gió trăng. Hết.

May mắn là tôi có cơ hội tìm gặp và đọc được một vài bài báo, cuốn sách của các thầy đồ. Từ thể phách, vận mệnh của một vùng đất đến tâm sự của các bậc tiền nhân, từ quy hoạch chi tiết đến bản vẽ thiết kế kiến trúc đều được thông tin đầy đủ trong 40 câu đối, 27 hoành phi và nhiều đại tự, đề tự, bài minh, văn bia…

Bao nhiêu năm qua, tôi cứ loay hoay tìm cách lý giải vì sao đời sống cứ nhiễu loạn, không biết nên làm gì, đi đâu, về đâu. Nhiều phen ngược xuôi Bắc- Nam, lang thang từ Đông sang Tây, ngược nóc nhà thế giới Everest, xuôi rốn trái đất là Biển Chết để tìm nơi chốn chia sẻ, cầu người tri âm và hy vọng minh chủ. Vậy mà chẳng có duyên lối để đọc hai câu đối đầu tiên ở phía ngoài cùng cổng đền:

Lập nhân tiêu biểu khai nhân kính

Độ thế tân lương giác thế quan

dịch nghĩa là:

Giúp người cái chính là mở đường cho người ta đi

Cứu đời đường lối là làm tỏ lẽ đời cho người ta hiểu

Theo Tảo Trang dịch trong bài viết trên tạp chí Hán Nôm năm 1991:

Vì người dựng cột nêu, dẫn đường văn minh khai hóa

Cứu đời có cầu bến, mở cửa giác ngộ từ bi

Còn theo cuốn “ 3000 hoành phi câu đối Hán Nôm” do Trần Lê Sáng chủ biên thì dịch là:

Lập nhân hãy mở đường nhân kính

Độ thế điều cần biết thế quan.

Nhiều năm qua, tôi kiên trì ngồi ở cổng đền 70 lần để “đo” xem những du khách nước ngoài và những người Việt (không đi kêu cầu) vào thăm viếng đền lâu nhất là bao nhiêu phút. Nhân vật khả kính nhất là 32 phút. Ra khỏi đền, rất nhiều người chỉ nhớ một cây cầu màu đỏ, đứng hóng gió ở đó rất tuyệt. Có người tâm niệm cúng khấn nơi này chắc chắn con cái sẽ đỗ đạt, thành danh. Có người mang theo kiểu ảnh chụp xác con rùa để “nhắn” mọi người rằng đã đến …. Thủ đô. Những người nước ngoài thì à nên một tiếng nông hoẻn. Giá như mà ai đó đọc giúp họ lời chào đón ghi trên Cửa Rồng, Bảng Hổ:

“Bảng hổ, cửa rồng lối đi người thiện

Đài nghiên, bút tháp văn nghiệp đất trời.”

Hai câu đối này tôn vinh những người có thiện tâm, cơ duyên mới tới  được nơi có tháp bút, đài nghiên- biểu tượng cao đẹp của văn chương cùng những giá trị tinh thần nhân bản.

Nghiên mực hình trái đào chỉ có chu vi 2m, tháp bút cũng chỉ cao 28m,  khoảng cách giữa tháp bút và đài nghiên chừng 50m vậy mà bài minh 74 chữ của Phương Đình- Nguyễn Siêu lại vẽ ra một phối cảnh cực rộng lớn với đủ cả Đạo của vạn vật, sắc trời, khí đất và tinh lực, khát vọng của con người:

“Xưa có việc lấy đất làm nghiên mực để chú giải Đạo Đức Kinh, đẽo nghiên đá viết sử hán. Cái nghiên đá này chẳng phải là một biểu tượng đó sao! Chẳng vuông, chẳng tròn mà rực rỡ ẩn chứa nhiều công dụng. Chẳng cao, chẳng thấp, ở chính giữa cúi xuống nhìn thấy nước, ngẩng lên ngọn bút đá, ứng sao Thượng Thai mà quyện mây ngũ sắc, ngậm nguyên khí mà mài vòm trời bao la”

Bước qua đài nghiên còn rất nhiều điều để mọi người tìm và hiểu về khu đền linh thiêng này. Riêng cá nhân tôi thì đã xin phép cung thỉnh được đôi chữ “Lâm thủy đăng sơn” treo ở cổng đền để đặt tên cho hai cậu con trai và cũng là nhắc nhở bản thân:

Lâm thủy đăng sơn nhất lộ tiệm nhập giai cảnh

Lâm thủy đăng sơn nhất lộ tiệm nhập giai cảnh

Lâm thủy đăng sơn nhất lộ tiệm nhập giai cảnh

Tầm nguyên phỏng cổ thử trung vô hạn phong quang

Dịch nghĩa là:

Dõi theo mặt nước, vượt qua núi cao, một con đường dẫn đưa vào cảnh giới đẹp.

Tìm về nguồn, hiểu rõ cội gốc, nơi đây vô hạn sáng tươi.

A1: Phúc

A2: Lộc

Cứu đời đường lối là làm tỏ lẽ đời cho người ta hiểu

Cứu đời đường lối là làm tỏ lẽ đời cho người ta hiểu

A3: Cứu đời đường lối là làm tỏ lẽ đời cho người ta hiểu

A4: Tìm về nguồn, hiểu rõ cội gốc, nơi đây vô hạn sáng tươi.

A5: Dõi theo mặt nước, vượt qua núi cao, một con đường dẫn đưa vào biên cảnh đẹp.

Giúp người cái chính là mở đường cho người ta đi

Giúp người cái chính là mở đường cho người ta đi

A6: Giúp người cái chính là mở đường cho người ta đi

B3: đài nghiên

B4: bài minh trên đài nghiên

B8: hai chữ Thiện- Ác trong đài nghiên

     chữ Ác

chữ Ác

B9: chữ Ác

C1-7: trang trí đò án dơi ngậm chữ Thọ trên cửa

C8: chữ Trung ở lớp cuối cùng của nhà Đại bái

C9: chữ Nghĩa

C10: Phong nguyệt

E1: ảnh tư liệu của Trần Chính

E2: ………………Nguyễn Nhưng chụp năm 1944

E3: …………đền Ngọc Sơn 1884

E4: ảnh tư liệu

F: sơ đò tổng thế và mặt cắt đèn Ngọc Sơn do người Pháp vẽ năm 19

Advertisements

3 responses to “Lâm Thủy Đăng Sơn

  1. Cám ơn nhiều.
    Cái vẻ lặng lẽ bình yên đẹp quá.

  2. Pingback: Ngoclinhvugia's Blog

  3. mở mắt mở tai,

    trân trọng cảm ơn tác giả.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s