Sư đồ

Trần Chiến viết tặng bọn người thích sống mãi, muôn năm?

Trời mưa một tuần liền. Nước sông lên to réo ù ù trong những hang hốc ven bờ. Trấn Quang Lộ vốn vắng vẻ càng đìu hiu. Bãi chợ ven sông trở thành đống bùn nhão, nước từ mái lều qua chõng sạp tuôn tồ tồ xuống cứt trâu, mảy ngô, bãi nôn thành xú khí nồng khẳn. Một con chó ghẻ lang thang rúc mõm vào mủng mẹt ướt át. Một chú gà con chiếp chiếp tìm đàn, tình cảnh đáng thương làm kinh động cả những pho tượng đứng đầu chợ.
Cách nay mươi năm, khối tượng lù lù mọc tự dưới đất lên, khắp vùng cho là từ cốt nhục của Kỳ Thọ Vương Trần Lãm. Trước ngày ấy mươi năm, hưởng ứng hiệu triệu của Đức Hiến Tôn chí tôn dưới xuôi, tù trưởng Lãm lập đội thân binh đánh đuổi giặc Lặc ra khỏi bờ cõi, làm yên hàn một nẻo biên thùy xa xôi. Được nhà vua phong tước, ngài cai trị một vùng Quang Lộ ấm áp, thanh bình. Tượng ngài bằng đá trắng đứng ven sông, đầu ngẩng lên trời cao, tay cầm thi thư, tay giữ đốc kiếm, chòm râu dài rủ xuống ngực, đôi mày lưỡi mác xếch lên quá chỏm tai rất chi hiên ngang. Bên dưới là khối đá tạc thủ túc thân tín, sau được phong tước hầu: Trương Tộn, viên phó tướng quyền biến từng thay ngài áp trại, Ngọc Sum, người đàn bà cai quản quân lương, trông coi nội phủ, đều tươi tốt hớn hở. Pho thứ ba là Lã Bía, theo ngài dấy nghĩa ngay từ đầu, chả hiểu sao lại rầu rĩ, đơ đơ đứng riêng ra. Dưới nữa, khuất trong chim hoa lá cá là những gương mặt dân dã hằng theo ngài đánh giặc: hoặc dắt trâu đi cày, thợ thuyền cầm búa đục, hoặc thổ tù địa phương, đàn bà còn cho con bú, đồ tể vác dao nhọn, cả thư sinh mặt trắng… Mỗi vai mỗi dáng, thảy đều lộ vẻ thần phục, cung kính chiêm bái về vị thủ lĩnh trên đầu.
Nhóm tượng phải nói là tuyệt đẹp, ở chỗ nó cực kỳ sống động. Được vậy là vì nhân vật, trong cốt đá, thảy đều vẫn có chút tâm linh để mà cảm động, còn có thể ngây ngất hay phiền muộn vì những gì họ trông, nghe thấy.
Sừng sững giữa giông gió, mưa lạnh, Kỳ Thọ Vương Trần Lãm không mỏi mệt. Thế mà tiếng gà chiếp giữa đêm lại khiến ngài váng tai hơn cả chớp oàng sét giật. Mà con gà mẹ đến lạ, cứ nhớn nhác mãi, không biết lại đằng đây tìm. Đến lúc chịu không nổi, ngài buông xuôi tay kiếm, cúi đầu xuống dưới. “Mấy người cho ta xuống đi…”.
Đợi một lát. Mày lưỡi mác dựng lên. Chân giẫm bành bạch. Mới thấy bên dưới ới lên: “Gì thế ạ?”.
– Cho ta xuống. Chú gà bé bỏng đuối lắm rồi.
– Sợ là ngài phải bẩn gót chân, vai thổ tù nói ra từ trong chim hoa cá lá.
– Bẩn râu ta còn chẳng ngại. Sốt ruột lắm.
– Cơ khổ. Đã lên cao vời còn động tâm, thư sinh lẩm bẩm.
– Các người mới hiển vinh đến chừng nấy mà đã điếc trước sinh linh bé nhỏ, quá đáng quá. Đã vậy…
Kỳ Thọ Vương ngoẹo cổ, quăng thanh kiếm đánh thịch, chòm râu nổi tiếng xoã xượi. “Dỗi rồi kìa…”. “Để thế này sáng mai ra mang tiếng chúng ta…”. Tiếng bàn rì rầm, rồi phó tướng phẩy tay. Từ trong chim hoa cá lá, người đàn bà cho con bú lách ra, tìm cái thang kê lên chân tượng. “Rõ sướng không biết đằng sướng….”
Trần Lãm nét mặt giãn ra, tót cái đứng sững trên mặt đất. Dợm quanh mé tiếng gà, ngài định chân sáo nhảy đi ngay, thì thư sinh cất lời: “Ngài không định đánh lừa những kẻ này đấy chứ?”.
– Ta chỉ xuống chơi thôi.
– Cứ để ngài tự đi! – Trương Tốn hạ giọng rất khẽ – Tò tý te một chút thì được. Nhưng Vương tự biết cái nhẽ không trở lại leo lên trên ấy thì thế nào rồi đấy.
Trần Lãm ngẩn mặt, chừng như tẽn tò vì bị bắt thóp, đôi mày dợm cụp xuống. Nhưng đi đã. Bèn rảo về phía tiếng gà chiếp, bỏ mặc đám tùy tùng lắc đầu nhìn theo.
Công việc cứu vớt quá đơn giản. Chỉ cần lùa tay vào gầm phản thịt, ngài đã tóm được chú gà chỉ còn thoi thóp. Vài bước chân là đến đàn, nhưng ngài còn vuốt ve, cho nó chút hơi ấm trước khi thả xuống. Một con mạt nhanh chân nhảy từ đám lông ướt sũng sang chòm râu đáng kính. “Hé hé hé hé é é…”, Kỳ Thọ Vương cười ròn, gại gại mãi vào ngực. Quả lâu rồi, ngài chả biết ngứa ngáy là gì, trên đỉnh tượng chả hề có ly leo bụi nào. Nhin chú gà con cuống lên chui vào cánh mẹ, ngài âu yếm: “Chú chả cám ơn ta à. Nhưng làm điều lành đâu cần cám ơn, phải không…”.

Thế là ký ức một thời vụt đến. Những ngày nhức nhối chịu đựng giặc Lặc. Âm thầm chuẩn bị lực lượng, ngài đã phải cụp mặt giấu nỗi sục sôi trước cảnh giết người, cướp của. Rồi giả cách ngao du vượt biển sang tít đảo Đông học người có chí lớn, trở về thu dụng đồng hành đồng chí. Người đến đầu tiên là Lã Bía chí cả tài cao kiến văn đầy mình, khi chuyện trò luôn làm ngài phải hướng đến những ý tưởng sáng láng đẹp đẽ, sự hy sinh cho nhân quần. Chính Bía đã dâng kế sách dựa vào sức dân không hẹp hòi đồng đảng, đánh giặc trước mắt cũng như xây cất sau này đều dựa vào đó mới nên. Khi gặp Trương Tộn, ngài nhận ra ngay sức mạnh thực tế, quyền biến bên trong vẻ an hòa rất mực. Giết ai thả ai, tâu bày hay giấu biến sự thực nào với triều đình dưới xuôi, nói gì chả nói gì hay nói gì mà làm không như gì trước bách tính, đều do Tốn bày đặt. Một luôn hướng đến những đẹp đẽ trong suốt, một không thể nhầm lẫn cái trước mặt, cả hai bổ sung cho nhau, hợp thành sức mạnh của hổ, sự cao sang của rồng cho ngài.
Đến sau cùng là Ngọc Sum, đúng vào chân nội tướng đang cần. Làm thế nào ra chục vạn hộc lương, muôn triệu tên giáo, hay đơn giản lo quả la hán cho vị Vương triều đình phái lên ngậm ho, đều do một tay ấy. Sau này, lại là những cống nạp kỳ Kinh đô có đại khánh…
Họ kết làm anh em, Lãm dĩ nhiên cả, ba người theo thứ tự Bía, Tộn rồi Ngọc Sum, cắt máu ăn thề xả thân vì đại cục. Cờ nghĩa giương lên ở Ma Lé, sau mấy trận toàn thắng đã rơi vào thất bát, bị vây tưởng không ra nổi. Rồi về đầu quân dưới cờ Đức Hiến Tôn anh minh, khối tự tin trong lòng trở nên chắc nình nịch, quân tự nhiều, lương tự đông, đánh đâu thắng đấy. Vào cuối cuộc trường kỳ, cái kiềng ba chân của ngài có dấu hiệu lay phay, Lã Bía như lẻ loi trong những cuộc luận bàn. Nhưng ngài cần cả ba, hay bàn gạt đi, rằng việc lớn nên cho là nhỏ, nhỏ thành không có gì, quả quýt mớ rươi biếu tặng nhau cho toàn đại cục là xong. Cứ thế cả bọn cùng đám tướng sĩ công bộc bên dưới đã cùng “dắt tay nhau tới chiến thắng”. Đội ngũ không thể sứt mẻ, để cho khúc khải hoàn – đỉnh cao là cuộc phong Vương cho ngài, phong hầu cho bộ ba – tấu lên trọn vẹn, rừng rực hùng tráng.
Kết thúc thế mới phải.
Trần Lãm đứng chân thủ lĩnh trên Quang Lộ dăm năm rồi tịch, vài năm sau đến lượt ba người em kết ngãi. Qua một đêm trời sôi ùng ục, đá đùn lên trên khu đất đầu chợ thành nhóm tượng như ngày nay. Trước sự thần kỳ, dân đặt đỉnh đồng, bát hương thờ cúng, qua vài tháng lại thấy mọc thêm tấm bia khắc công tích chống giặc Lặc ngày nào. Ghi rằng một thân vì nghĩa cả, hy sinh hết tình riêng không cả vợ con để tranh giành hạnh phúc cho con dân trong xứ…

*
Kỳ Thọ Vương xoa đất lên người, chuẩn bị một bản mặt võ vàng để tiện bề hòa trộn. Những bước đầu tiên thong dong về bản Ma Lé. Tưởng tượng ra cảnh phong đăng hoà cốc, mùi cơm mới tỏa thơm trên lớp lớp nhà, ngài phải thỏm vào bối rối. Sao mà quạnh quẽ, mạt rệp. Trẻ bụng ỏng cởi truồng trong đông giá. Những lát sắn mốc đen chỏng chơ trên nong. Nồi niêu trống toác, hạt cơm cõng cả nuộc rau rừng, làm gì mà mặt người chả bủng beo. Ma Lé đấy ư, cái bản ăm ắp hùng tâm tráng khí phần phật cờ nghĩa thuở nào? Trông thấy một bản mặt quen, ngài xà xuống, giả cách hỏi về quá khứ, chả thấy hắn muốn nhắc nhớ gì. Dần dà ngài nhận ra tên lính từng vác cờ chạy ngay sau đít ngựa mình, lân la tiếp thì không được lời nào tốt đẹp:
– Trước kia từng tưng bừng lắm, ai cũng nhìn về một hướng. Nhưng giặc đi thì hết. Trần Lãm là thân đại lượng nhưng lên bậc á thần, yên hưởng vinh lộc rồi thì dưới làm gì khác ý cũng phải lờ đi cho yên. Ruộng vườn quan tướng tay chân ông ta cướp cả, làm gì mà chả đói. Mà cái nhà anh này sao rặm lời, có muốn chầu cháo củ chuối thì ta cho.
– Thế sao không bẩm báo quan trị quan nhậm?
– Ta trông anh sáng sủa mà hỏi lại ngu muội. Sao còn kẻ dỗi hơi vậy!
Viên quân hiệu phẩy tay, quay người nằm ngủ. “Tôi có thể nói lại với Trần Lãm được đấy”, ngài lay lay. Thì hắn thủng thỉnh: “Chính bọn Tộn Sum lấy hết ruộng vườn làm trại ấp, đem thổ sản về xuôi. Giống trâu của vùng này quý thế mà giờ chả còn một mống. Lãm chết rồi, giá thử sống lại thì cũng còn làm được gì? Trông gương Lã Bía đấy, thân tín vậy mà còn bị hại…”, rồi gọi không dạy nữa.
Lang thang trong ướt sũng, đâu đâu cũng vàng vọt. Ma Lé vắng tanh, chỉ còn người già. Thanh niên đi vợi, về nơi kiếm ăn được, gặp ở đấy những cô gái cùng bản đi bán mình. Gái Ma Lé nổi tiếng đẹp… Những ông bà, bố mẹ ở lại có chết, đám ma chắc chỉ lèo tèo. Đầu bản, chỗ đất tụ thủy, vẫn là nơi cúng Thần Suối Thần Mưa xưa nay, mọc lên tòa ngang dãy dọc, thấy bảo là của thuộc hạ Trương Tốn. Lại bọn Tộn, chỗ phủ lỵ chưa đủ với chúng sao?
Cơn rưng rưng thương nòi giống kéo lên trong lòng người đa cảm, kẻ trí lự vẫn được tiếng khoan hòa nhân hậu. Phải, khi đánh giặc Lặc, nhờ tha cho một đám lính hàng mà ngài thu phục cả đạo binh như hùm như hổ. Những tướng giỏi bên ấy, chỉ nghe tên quan quân đã tở cả mật gan, về hàng dưới chân ngựa ngài. Vương đâu phải quá dũng lược trong binh pháp, mà được là ở tấm lòng. Ngày thắng giặc, ngài được Đức Hiến Tôn ban chữ Nhân, một sự tưởng thưởng quá hậu hĩnh. Nhưng giờ, gì thì gì, ngài phải dằn lòng dẹp lại cơn xao động. Sự nghiệp Bất Tử còn đó, bắt Vuơng phải chế ngự cung bậc tình cảm. Tim phổi lòng mề không thể cứ hồn nhiên cuộn lên nữa, kia mà…
Ấy là vào lúc cuộc trường kỳ gian khổ sắp tạnh. Giặc Lặc suy yếu đánh lẫn nhau, phát ra những tín hiệu cầu hàng. Tù trưởng Trần Lãm, trước thế cờ tàn, biết mình phải lựa chọn, hoặc về Kinh thụ lộc, lẫn vào đám công hầu nhung nhúc, hoặc ở lại rừng núi đơn sơ mà thực là “đầu gà”. Trong một lát ngồi nhổ lông chân chọc ghẹo nhau, Trương Tộn chợt chắc giọng: “Các anh em, cây sung trước nhà đơm hoa, là lúc xứ Quang Lộ ta phải bầu lấy một người làm vua”.
– Dớ dẩn, Lã Bía bảo, vua dưới xuôi chứ đâu trên này.
– Anh chỉ thông tuệ đâu đâu. Vua dưới xuôi thật, nhưng từ Thái Tổ đến nay mấy trăm năm đã có triều nào lên đây chửa? Quang Lộ đất phẳng phiu nên còn gọi mường Mặt Ghế. Mặt ghế ai ngồi chả được, nhưng phi trong mấy anh em ta thì không thể.
– Thế anh vào đấy chắc…, Ngọc Sum phưỡn môi.
– Tớ đây ít học chỉ được chân thầy dùi. Cậu đàn bà đo lọ nước mắm là hợp. Lã Bía hay đọc sách thành thử suốt ngày đắn đo. Chỉ huynh trưởng là xứng!
Cả bọn dùi dắng, thấy Lãm đủ tư cách thủ lĩnh nhất thì hùa nhau bầu. Huynh trưởng ban đầu chỉ coi là trò chơi, dần dần ngộ ra sự nghiêm trọng, bèn đằng hắng: “Xứ này cần vua thật, tất nhiên phải thần phục dưới kia. Ta ưng lời anh em nhưng nghiệp lớn lắm e không đương nổi”. Tộn bảo chim hồng hộc bay cao là nhờ mấy sợi lông cánh, có anh em đây lo gì. Việc suy tôn thế là xong, lại bảo: “Vua thì cũng đến lúc chết, phải thành bất tử mới được, để mà còn thu phục được mười tám động rải rác trong mường Mặt Ghế, sau này chả ai quên ơn chúng ta, dĩ nhiên con cái cháu chắt được hưởng lộc đời đời”. Bèn dẫn về một dị nhân bảo hô phong hoán vũ là sự thường, nhưng có thể ban bất tử cho người ngồi ghế cao nhất. Trần Lãm mới đầu không ưng, sau lại bội phục ông thầy đọc vanh vách nỗi ưu tư trong bụng mình. Và rằng: “Chỉ ở đây thôi, chốn rừng xanh này, ngài mới không bị mai một, nhược bằng về Kinh nhòa nhạt ngay. Vả, triều đình cần phên dậu, một tên tuổi trấn an những mưu mô bất trị”.
– Bao giờ thì bất tử được? – Trần Lãm hỏi.
– Chết mới được. Lúc ấy ngài mới biết. Nhưng có những điều phải theo không dễ… Ví như ăn uống sam sưa, kiêng sắc dục…
– Cái đó dễ quá.
– Không xây cất đình tạ nguy nga, lúc chết chỉ hậu táng như một nông phu chỗ đầu chợ.
– Đấy chính là ước nguyện của ta.
– Điều này là khó nhất. Không để tâm can chế ngự. Tình cảm lúc nào cũng nào cũng phẳng lặng như mặt ao bèo, kể cả khi đã được dựng tượng, khắc vào bia. Đừng tưởng đá không có tâm tư đâu.
Trần Lãm lặng người, gặng hỏi: “Nếu không giữ được thì sao?”
– Thì nét mặt trên thần tượng sẽ méo mó, xấu xí, những lời tốt đẹp trên văn bia sẽ trở nên phỉ báng, rồi hậu thế cợt nhạo. Bậc bất tử phải muôn năm tĩnh mịch, không đoái lên trên, hoài xuống dưới.
“Đệ nghĩ điều này thật không hợp với người có Nhân như huynh”.
Bía đứng cạnh thưa vào, lời rất khẽ mà chẳng hiểu sao Tộn nghe được. Rất điềm tĩnh, viên phó tướng chọc ngón tay vào sườn Bía, khiến hắn phải ngay đơ ra. Trần Lãm biết đó là phép điểm huyệt nhưng không muốn có người bàn thêm, bèn để vậy tự quyết. Sau ba ngày thì đồng ý, được luyện phép Bất Tử.
Nhóm tượng mọc lên đầu chợ Quang Lộ có hình thù thật tương hợp: Kỳ Thọ Vương đứng trên cùng đẹp đẽ, vừa khoan hòa vừa oai vệ, vẫn có thể quan sát, cảm nhận, thậm chí so đo, nghĩ ngợi tý chút. Đám Trương Tộn, Ngọc Sum và bọn thổ tù, thư sinh mặt trắng, thợ thuyền vung búa có thể nhăng nhố hơn một chút. Riêng Lã Bía cứ trơ trơ như phỗng, trong một tư thế cứng quèo rất khó coi, trông đã thấy mỏi.
*
Có cái gì đụng vào sườn. Tên thư sinh mặt trắng giật giật tà áo vải, lễ phép: “Đức Vương, ta về thôi!”.
– Ngươi cứ đi, ta rảo đằng này.
– Hạ quan đang viết sách về Đấng Bất Tử cho đời sau kính cẩn, mà Vương cứ ngọ nguậy thì bình thế nào được.
– Kệ nhà ngươi, ta còn chút riêng tư …
Vương lục áo dúi chút bạc lẻ, hắn để ngài đi. Cái chỗ hướng đến tuyệt nhiên kín đáo, ngoài ngài và vài tâm phúc chả ai hay. Hồi còn trẻ, chán nản vì bờ cõi kỳ cùng đâu cũng có vết tích giặc Lặc, Lãm cùng Lã Bía lang thang tới những xó xỉnh rất chi đáng ngờ như chiếu cờ bạc bịp, xóm câu trộm chó bán cho hàng làm thịt. Đang khi say tứ đổ tường, mà gặp Thắm, cô hàng cháo lòng ngõ Đặng, chàng phải mê man vì dung nhan quá đỗi dịu dàng, làn môi màu hoa đỗ quyên. Mỗi sáng ra, thưởng bát tiết canh nàng đánh, dù với cổ họng hay lát khấu đuôi, chàng đều có thể dùng đũa mà gắp lên được, không thể không rung đùi làm điếu thuốc lào cảm phục. Đáp lại tấm tình, Thắm đi lại khăng khít, có với chàng hai đứa con. Kíp khi giặc bị giặc săn lùng vì lan truyền câu “Trần Lãm phản nghịch” trong thiên hạ, chàng phải náu vào bóng tối, chả đoái được đến gia đình nhỏ đang tơi bời ra sao. Vì phải dấu tung tích, ai hỏi đến đời tư, chàng một mực “muộn màng vì còn sự nghiệp lớn”. Cứ thế mãi, đến khi giặc tan, triều đình dưới xuôi hỏi đến gia cảnh để ban tước Vương, bọn Trương Tộn chép lên “chưa hề vợ con”. “Ai lại thế! Giờ là lúc đón mẹ con cô Thắm về cho được gần gụi mới phải”, Lã Bía bàn. Ngài chưa kịp quyết gì, chỉ thấy mắt Bía trợn ngược lên, ra bị Tộn thò tay bóp dái. “Chả hóa ra đấng Bất tử trước sau không như một ư? Thê nhi như y phục, chỉ được cái quân tử vặt mà quên đại sự!”, Tộn phẩy tay. Đến thế thì thôi, dự vào nghiệp lớn thì hình ảnh mình không thể còn là của mình nữa. Từ lâu rồi, càng ngày ngài thấy mình càng phải biết điều với viên phó tướng này, tuy đến sau mà hắn đòi phen làm Lã Bía trớ phở.
Ngõ Đặng ra điều đang ngái ngủ. Đèn đường le lói soi lờ nhờ mặt đường khấp khểnh, ô cửa như con độc nhãn mở trừng trừng. Chân tránh những đống mảy ngô, xác chuột, bưng mũi trốn mùi thối rữa, Vương tiến sâu vào cuối ngõ. Quái, ngày nào phong quang, nức mũi dồi trần với húng ngổ cơ mà. Đôi tay nàng thoăn thoắt thái lòng xe điếu, hãm tiết, chả quên lo cho người tình múi chanh với dúm hành sống. Và đêm đến, ngầy ngậy, ẩm ướt, cái mùi chả đàn bà nào có được. Ngài thích ngửa ra vần con, mỗi chân mỗi đứa, trong khi mẹ nó sắp xếp mẻ hàng cho sáng mai, nụ cười sáng căn lều. Giá kể không có đại loạn, hoặc loạn xong thì bình thời, ngài chỉ thích được hưởng hạnh phúc vầy vậy. Giấc mơ đơn sơ, thế mà mỗi ngày mỗi xa…
Cuối ngõ lù lù đống khắm rinh rích. Ngài chọc đầu gậy vào tùm hụp áo tơi, ra lão ăn mày già. Rất lâu, chả biết tỉnh hay còn lơ mơ, lão buông nhời “Cháy rồi! Cái người xinh ấy tiệt đâu đâu…”, rồi lại ngủ vùi. Kỳ Thọ Vương đấm đá đạp, chỉ được thêm câu dắm dẳn: “Bèo dạt mây trôi, bàn tay xòe ra làm sao nắm được dòng nước…”
Vợ hiền của ta. Nào là tần tảo với bù trì. Nàng thật an phận với những hy vọng về hạnh phúc đơn giản cho chồng con, chả hề đoái vương nọ tước kia. Ai bảo đàn bà môi thắm quá khổ lắm, mà nàng lại còn đôi gót chân nứt, rất đau về mùa đông.
Sinh linh bé bỏng của ta, hai con ở đâu. Ta chả dọn khai thối, bế ẵm con trong những đêm ươn mình, chả khai tâm được chữ nào, lại còn giấu biệt, như chưa hề có chút chít ngồ ngộ ngốc nghếch nhố nhăng nào trên đời.
Bất Tử ơi hơ hơ hờ hờ…
Kỳ Thọ Vương rống lên, với chút ngạc nhiên. Còn có thể khóc như đứa trẻ sao, sau bấy nhiêu năm ngay ngắn cho thiên hạ trông vào, lời lời ra thảy bay lượn trong không trung như có cánh? Như một người điên, ngài thụi tơi bời vào thùm thụp áo tơi, bắt hở thêm điều gì nữa. Nhưng lão ăn mày đã thẳng cẳng, cổ họng dính ngọn châm rỉ ba giọt máu xanh lè. Kẻ hạ thủ chính là phó tướng, đã thành Á Bất Tử mà thần lực còn kinh người.
“Bẩm Đức Vương, ngài phải về!”, Trương Tộn nói, lời cung kính mà giọng đã gằn nộ.
– Chút nữa thôi. Ta muốn…, ngài thốt lên.
– Vương quên lời thề bất tử rồi à? Ngài chưa bao giờ có vợ con, chưa bao giờ hết! Hiểu chưa?
Một cái khoát tay mạnh mẽ. Từ trong bóng tối, lũ thổ tù, thợ rèn, đồ tể, cả Ngọc Sum chạy ra kéo Vương chạy băng băng. Mồm không thể kêu vì đã bị nùi giẻ tọng chặt, những ú ớ thoát ra, may chỉ có lão ăn mày đã mãi mãi không cất được tiếng là còn hay.
Đầu chợ Quang Lộ, nước sông còn rùng rùng lên. Ba bốn người hè nhau hết sức đẩy Trần Lãm lên đỉnh cột đá. Bên dưới, Trương Tộn lạc giọng: “Sẽ sàng thôi, đồ ngu. Ngài mà giận quá thì mặt sệch đi, văn bia sẽ trở nên sằng bậy đéo chữa được đâu!”.
Hì hục, hổn hển, tức mà không dám hỗn, họ cũng xong được việc. Khi tất cả đã trở lại vị trí cũ dưới chân tượng đài, bên cạnh Lã Bía vẫn trơ trơ như phỗng, Tộn thắp nén trầm to cho khói thơm nghi ngút, cung kính vái.
“Sự nghiệp Bất Tử to lớn lắm. Chả ai còn được là mình khi đã đứng vào đây, xin Vương nhớ cho điều đã thệ!”.
Nói rồi đứng vào chỗ của mình.
Mưa vẫn tràn trên núi xuống sông, nhưng không thể bén tới chân khóm tượng. Trên đỉnh, Kỳ Thọ Vương đã lấy lại tư thế vừa uy nghi vừa hiền từ muôn thuở, trong tâm còn lay động tý tẹo. “Mẹ cha lão già, làm mệt quá!”. Ngài biết khi nói câu ấy, Trương Tộn đang bóp vú Ngọc Sum…
Trần Chiến

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s