“Cái vĩ đại và cái lố bịch” ?

                                       4 (4)a

                                    Bữa trưa trên cỏ – Édouard Manet vẽ 1863

Hơn hai chục năm gần đây, khi tiếp cận với nhiều nguồn thông tin khác, được đến tận nơi, sờ chạm vào từng góc phố, lật từng nắp cống, chiêm ngưỡng tận mắt tác phẩm của các nghệ sỹ, KTS, họa sỹ, điêu khắc gia, nhiếp ảnh gia, các nghệ nhân…, tôi dần nhận thấy có gì đó quá khác, rất khác giữa hư cấu văn học, ngôn từ, cảm xúc hay xa hơn nữa là lý tưởng của Hugo với một thực thể Paris luôn tiếp nối, kế thừa đầy đủ và có chọn lọc nhất từ những quá khứ đầy biến động dữ dội.

Tôi thực sự mông lung, ái ngại trước những cảm nhận của V.Hugo khi chính ông là sự “chung đụng” Chủ nghĩa xã hội không tưởng và Chủ nghĩa Dân túy cực đoan? Ông viết:

“Khi nó muốn, Paris có thể ngớ ngẩn được và lúc bấy giờ thì cả vũ trụ cũng ngớ ngẩn theo. Nhưng rồi Pari thức tỉnh, dụi mắt và nói: “Ơ! Sao mình ngu xuẩn thế!” Thật là một điều kỳ dị, khi cái vĩ đại ấy và cái lố bịch ấy chung đụng với nhau. Paris truyền cho cả nhân loại những lý tưởng nhưng những lâu đài đồ sộ nhất của nền văn minh nhân loại cũng chỉ để cho nó giễu cợt và sẵn sàng làm cho những trò nghịch ngợm thành bất diệt.”

Vậy còn những Paris khác thì sao nhỉ?

1 (3)a
 Sau khi V.Hugo viết Những người khốn khổ… 27 năm, Paris 1889 là thế này cơ mà?
Có ai từng nép mình bên cô thôn nữ đang mải mê đọc sách cạnh bờ suối trong lành, rừng sồi trầm mặc mà Jean-Baptiste-Camille Corot vẽ trong “Rừng Fontainebleau” năm 1830? Ai đã một lần ngây nhìn những người nông dân Paris hiền lành, chất phác, tần tảo trên ruộng đồng trong “The Gleaners” mà Jean-François Millet vẽ hồi 1857? Ai đã từng đến bảo tàng Louvre xem The Luncheon on the Grass, Music in the Tuileries của Édouard Manet vẽ 1862, Dance at Le Moulin de la Galette Pierre mà Auguste Renoir vẽ những người lao động Paris đang xõa tưng bừng trên đồi Montmartre ….?

Sau đó chỉ vài trăm năm thôi, chính họ sẽ bàng hoàng trước một thực tại Paris hoàn toàn tương phản, khác ngược, biến dạng và hơn cả… khốn khổ trong Les Misérables.

4 (2)a

                Rừng Fontainebleau (Jean-Baptiste-Camille Corot vẽ 1830)

                                  1200px-Pierre-Auguste_Renoir,_Le_Moulin_de_la_Galette       

Dance at Le Moulin de la Galette Pierre- Auguste Renoir vẽ  1862 cùng thời điểm Hugo ra sách. Montmartre ngày đó là ngoại ô rất xa trung tâm mà … công nhân đã xõa cỡ này cơ mà?

Có lúc, chính Hugo cho rằng tinh thần của Paris nằm ở ngoại ô. Hãy thử xem cái ông phê bình kiến trúc ghê gớm này đã viết gì về đêm Noel 1832, khi Cosette một mình đi lấy nước ở gần sông Chelles:

“Cái khuôn mặt thê thảm của bóng tối như nghiêng xuống đứa bé. Con bé kinh hoàng nhìn sao Mộc to lạ lùng kia. Ngôi sao đang tiến sát đường chân trời, xuyên qua màn đêm dày đặc, trông đỏ đòng đọc. Sương mù nhuốm một màu đỏ ghê rợn làm cho ngôi sao to thêm ra. Giống như một vết loét ngời sáng. Gió lạnh từ đồng thổi vào. Rừng tối om! Không một tiếng lá sột soạt, không một gợn sóng, thứ ánh sáng mờ mờ. Các cành cây to dựng đứng trông gớm chết. Mấy bụi cây gầy guộc, hình thù kỳ quặc đang rít gió ở ven rừng. Đám cỏ cao vút nhung nhúc dưới làn gió thổi, như một đàn lươn. Những cây gai vặn vẹo như những cánh tay dài nghêu có vuốt đang giơ ra bắt mồi; mấy cành khô gió thổi cuốn nhanh qua như kinh hãi chạy trốn cái gì sắp tới. Tứ bề toàn là cảnh mênh mông kinh khủng. Cảnh rừng là cảnh tận thế. Và cái đập cánh của một linh hồn nhỏ bé bỏng dội lên như một tiếng hấp hối dưới vòm lá bao la”

                                         2 (1)   

                          Hotel de Ville năm 1583 – tranh khắc của Hoffbrauer

                                       2 (2)

                    Hotel de Ville năm 1753 của Nicolas-Jean-Baptiste Raguenet 

                                    4 (3)a

                         “Bathers at Asnières” – Georges Seurat vẽ 1884

350px-Georges_Seurat_-_A_Sunday_on_La_Grande_Jatte_--_1884_-_Google_Art_Project

                                         và “A Sunday on La Grande Jatte”

Vào thế kỷ 16, nếu ai từng ngắm nhìn cây cầu Meuniers (1580), The Hotel de Ville (1583) trong tranh khắc của Theodor Josef Hubert Hoffbauer hay sau này là “Một chiều chủ nhật trên đảo La Grande Jatte”, “Bathers at Asnières” của Georges Seurat vẽ năm 1884, thì khó có thể tưởng tượng sau 400 năm, từ cây cầu có tên mới Change- nơi Javert tự tử, dòng sông Seine lại bẩn thỉu, nguy hiểm và ghê rợn đến thế.

 

1 (2)

                            The Palais-Royal -1679 tranh khắc của Adam Pérelle

Vào thế kỷ 17, nếu ai đã từng xem bức tranh cầu Neuf vẽ năm 1660, bức tranh khắc Cung điện Royal mà Adam Pérelle thực hiện năm 1679 như một phần đại cảnh “Rome mới”  của Louis XIV thì không thể lý giải được vì sao những kiến trúc huy hoàng ấy lại biến mất và Paris chỉ là thứ bối cảnh đáng sợ, kinh tởm, hãi hùng mà cha con Jean Valjean và Cosette lẩn quất, trốn chạy khỏi sự truy sát của cả cảnh sát và bọn tội phạm.

Hugo đã viết: “Một phố của Paris nhưng ban đêm ghê rợn hơn là giữa rừng, ban ngày buồn thảm hơn bãi tha ma  Nếu địa ngục là có thật thì Boulevard de l’Hôpital là con đường dẫn đến đó chỗ này không phải là chỗ qua lại dù là ban trưa”

5 (2)a

Renommée des Arts– Nữ thần Nghệ thuật trên trụ cầu Alexandre III- rất gầ chỗ cớm Ravert tự tử?

Paris từng tạo tác điêu khắc “Louis XIV cưỡi ngựa” do François Girardon thực hiện năm 1692, được dựng lên tại quảng trường Place Vendôme vào năm 1699. Tuyệt phẩm Người suy tưởng (một phần của The Gates of Hell – 1880), Nụ hôn 1889 của Rodin … Không thể tin được rằng thành phố thủ đô nghệ thuật của châu Âu lại có thể bày trò mèo với tượng chú voi xấu xí, bệ rạc, nơi mà cậu bé đường phố Gavroche đã biến bụng voi thành ngôi nhà của lũ trẻ bụi đời.

Hugo không ngần ngại giễu nhại:
Mỗi khu ở Pari đều nổi tiếng với những con vật kỳ quái có thể tìm thấy. Có những con “chọc tai” ở những cổng trường Ursulines, có những con cuốn chiếu ở điện Pantheon, có những con nòng nọc ở quảng trường Champs-de-Mars”

5 (1)a

            Người suy tưởng của Rodin- Musée d’Orsay  Paris 

                    3a

Người phụ nữ bị rắn cắn- 1847, đá cẩm thạch, Musée d’Orsay của Jean-Baptiste Auguste Clésinge

Khác hẳn Notre-Dame de Paris, trong Les Misérables, các kiến trúc tôn giáo hoàn toàn mờ nhạt , xám xịt, đen tối. Không thấy đâu   Saint-Germain-des-Prés (990–1160) như một định nghĩa về văn hóa, nơi bảo tồn có chọn lọc những giá trị của văn học phương Tây, một trung tâm tri thức, trí tuệ của TK 10-12. Trong phần gần cuối cuộc đời bi thảm của mình, trong hành trình điên rồ, vô vọng cuối cùng, khi Jean dạt vòm tới phố Little Picpus, những kiến trúc kinh điển như Patheon (1670- 1678 ) của Kiến trúc sư Libéral Bruanth hay Notre-Dame de Paris (1160–1230)  một ví dụ tốt nhất về kiến trúc Gothic cũng không một lần ló dạng, mất dấu, quên lãng.

Hugo từng viết: “tu viện Petit-Picpus, những bức tường xây bằng đá điếc mà kinh thánh nói đến. Chế độ nhà tu là một vấn đề của con người. Khi nói đến những nhà tu, những nơi trú ngụ của lầm lỗi, nhưng cũng là của thơ ngây trong trắng, của sai lạc nhưng cũng là của thiện chí, của ngu dốt, của tinh thần tận tụy hy sinh, của hình phạt nhưng cũng là của tinh thần tử vì đạo. Một nhà tu là một sự mâu thuẫn. Mục đích là cứu vớt, biện pháp lại là hy sinh. Nhà tu là sự ích kỷ tối cao dẫn tới sự nhẫn nhục tối sao. “Thoái vị để trị vì” hình như là châm ngôn của chế độ nhà tu.”

4 (1)a

                                     Nhà thờ thờ Auvers – Van Gogh vẽ 1890

Nếu ai đã chiêm ngắm bức tranh Nhà thờ Auvers và đọc những gì Van Gogh viết cho em gái Wilhelmina thì sẽ nhận thấy sự tương phản ghê gớm giữa cách nhìn, cách cảm của nhà văn và họa sỹ, hai thiên tài:

“Tôi có một bức tranh lớn hơn về nhà thờ làng. Trong đó, có một hiệu ứng rất lạ, nó khiến tòa nhà dường như nổi bật trên nền trời xanh lục mộc mạc, xanh coban thuần khiết; các cửa sổ kính màu xuất hiện dưới dạng các vệt tối, mái nhà có màu tím và một phần màu da cam. Ở phía trước, một số cây xanh nở rộ và cát dường như lấp lánh với dòng ánh nắng màu hồng của mặt trời”                                                     

PhilNGAWorldGames 073

Phố Paris ngày mưa- Rainy Day 1877 của Gustave Caillebotte, một mô tả chính xác những tác phẩm vỹ đại của Kiến trúc sư Georges-Eugène Haussmann

 Nhìn lại suốt một hành trình Les Misérables dằng dặc, thật khó tin là V.Hugo bỏ qua Khải hoàn môn The Arc de Triomphe (1806–36) tuyệt phẩm của Jean-François Chalgrin, kiến trúc thép kỳ vỹ Galerie d’Orleans tại Palais-Royal (1818–29) của Pierre-François-Léonard Fontaine. Bóng dáng Nhà ga xe lửa Paris đầu tiên Gare Saint-Lazare  (1837) chỉ còn đọng lại trong sự khinh thị của tác giả về “con quái vật màu đen”. Những du thuyền đầu tiên trên sông Seine chỉ còn là những con vịt lạch bạch. Hugo giấu biến đi đâu nội thất của một trong những gian hàng bằng kính và sắt khổng lồ của Les Halles , (1853–1870), chợ trung tâm của Paris, do Victor Baltard thiết kế. Chiến lũy lừng danh Rue Saint-Denis (nay là Rue Rambuteau)  đã hô biến, san phẳng con đường đầu tiên xuyên qua trung tâm thời trung cổ, dưới Louis-Philippe. Cả thủ đô hoa lệ gắn liền với chương trình Cải tạo Paris thời Đệ nhị đế chế và quy hoạch vỹ đại của Georges-Eugène Haussmann thì không có một dòng bình phẩm hay phán xét.

3 (1)a                                                    Khải hoàn môn ….

( còn tiếp)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s