Bên bờ Hạ Long

 

 

 

e

Bài: Xuân Bình. Ảnh, tư liệu: Hải Sơn

 

Để tìm thấy gì đó khác biệt, nổi bật từ kiến trúc của thành phố Hạ Long, có thể người ta không có nhiều lựa chọn.

Tạm thời, gợi ý tốt nhất là Bảo tàng-Thư viện, Trung tâm Quy hoạch- Triển lãm và hai biệt thự ở Cọc 5. Những kiến trúc mới, hiện đại này nằm bên Trần Quốc Nghiễn- con đường dài và đắt giá nhất Hạ Long hiện nay.

 

Nếu có một quy hoạch đô thị thông minh, thân thiện, bền vững hơn thì những công trình trên đã có thể hội tụ gần đủ điều kiện để trở thành hình ảnh đại diện, biểu tượng cho một Hạ Long, Quảng Ninh mới.

 

Và ấn tượng hơn hai công trình nghìn tỷ rất có thể chỉ là những cây bàng lá nhỏ được ai đó đã bên phía Cọc 5. Nếu nhanh, cũng phải mất hàng chục năm nữa người Hạ Long, Quảng Ninh và người Việt mới hiểu được những lời nhắn nhủ của sinh linh nhỏ bé này?

 

 

Đá- Nước và Mây Trời.
1 (3)
Bảo tàng- Thư viện và Trung tâm Quy hoạch- Triển lãm Quảng Ninh không hẳn là hai công trình độc lập, tách rời. Hai kiến trúc này vượt qua giới hạn hình lạ, ý hay.

 

Từ những cảm nhận, ấn tượng thị giác, với Bảo tàng- Thư viện Quảng Ninh, KTS Salvador Perez Arroyo đã rò tìm, nhận thấy, nắm bắt và biểu đạt được mối liên hệ huyền nhiệm nào đó giữa người Hạ Long, Quảng Ninh với than đá. Đó tạm là một điêu khắc vỹ đại nhất mà lần đầu tiên người Hạ Long, Quảng Ninh vinh danh, tri ân quá trình Cacbon hóa thực vật, kết tạo các vỉa than và trao sức mạnh, quyền lực của “Kỉ nguyên than đá” cho vùng đất này.

 

Đặt kiến trúc trong không gian hai chiều, Salvador Perez Arroyo khiến người ta nhớ đến những mảng màu đắt giá nhất, gây tranh cãi nhất thế kỷ 20 trong các tác phẩm hội họa Trừu tượng biểu hình. Trong không gian ba chiều, Salvador Perez Arroyo đã đẽo gọt, mài giũa kiến trúc này thành những khối vuông, những điêu khắc tối giản.

 

Từ mặt đứng công trình, đường nét, hình khối, phối cảnh kiến trúc mang đến cảm giác rõ rệt về một cấu trúc chặt chẽ, vững vàng mà vẫn thấp thoáng nhịp điệp của rừng đá trên vịnh.

Tường kính đen không chỉ gạn lọc bớt sáng, nắng. Tựa như một tấm gương huyền hoặc, kiến trúc để cho đô thị, không gian, thời gian in bóng, lưu dấu. Nếu quan sát khối vuông phương thuật đó từ một nơi cao xa, rất có thể nó sẽ gợi nhắc người ta so sánh kiến trúc với khối đen Kaaba – “Ngôi nhà của Allah” trong thánh đường Al-Masjid al-Haram ở Mecca. Có phải vì thế mà vỏ ngoài, hình thức dù giản đơn, tiết chế nhưng cũng đủ tích hợp, hàm chứa, lắng lọc cả những trầm tích bí ẩn của thời gian.

1 (2)
Nhưng Salvador Perez Arroyo chỉ thực sự hoàn chỉnh, hoàn tất một quan niệm mới về không gian Bảo tàng- Thư viện Quảng Ninh khi KTS hoàn thiện công trình TT Quy hoạch- triển lãm cách đó không xa.

 

Để tương hợp với hình vuông, khối lập phương của Bảo tàng- Thư viện, Salvador Perez Arroyo đã phác ra một Trung tâm Quy hoạch- Triển lãm như vòng tròn lớn, một mô hình hay biểu tượng của chuyển dịch, biến dịch.

Mượn những nét cong lượn phóng khoáng, cái đa sắc của Trắng- Đỏ- Đen, Salvador Perez Arroyo để các thành tố của công trình dâng cao, trườn xoay, vờn quyện, dừng lặng, lắng lọc, hội tụ, thống nhất rồi tiếp tục lay động, lan tỏa. Trong mắt các nhà địa chất, mặt cắt của công trình này dường như đang biểu đạt một quá trình kiến tạo vỏ trái đất. Với các nhà khảo cổ, đó như những gì mà người Việt cổ từng để lại những dấu vết kỳ lạ trên hang Soi Nhụ, bến Bèo, Vân Đồn… Và trước những đột khởi, sừng sững, uy lực, bất động của Bảo tàng- Thư viện, TT Quy hoạch- triển lãm như thể là một dấu vết hay khúc xạ  mềm mại, biến ảo của sóng, gió và mây trời.

 

c

Từ những ý tưởng lấp lánh hiếm hoi đó, Salvador Perez Arroyo đã hé lộ triết lý thiết kế của mình. Bảo tàng- Thư viện và Trung tâm Quy hoạch- Triển lãm đã hợp thể rồi kiến tạo một không gian lớn rộng hơn kích cỡ vật chất của nó. Kiến trúc kết nối, hòa hợp những giá trị rất khác biệt, đầy tương phản giữa đất và nước, biển và trời, con người và vũ trụ, vuông- tròn, bất định và biến dịch… Đó là duyên cớ mà KTS Salvador Perez Arroyo mượn kiến trúc để nhận biết rõ hơn về Hạ Long, ý thức rõ hơn về một quỹ vốn không gian đặc biệt mà trời đất ban tặng cho con người. Đó cũng là cách mà KTS cắm những dấu mốc rất lớn trong không gian hiện tại. Salvador Perez Arroyo gửi đi một tín hiệu, một niềm hy vọng về sự phát triển và dịch chuyển mạnh mẽ nhưng rất cần thân thiện, hài hòa với thiên nhiên của một Hạ Long trong tương lai.

 

KTS Salvador Perez Arroyo đã dâng tặng Hạ Long, Quảng Ninh một tòa lâu đài nhưng kiến trúc có sức sống, có hấp dẫn hay không thì còn tùy ở chủ nhân của nó?
 “Tiểu diệp lãm nhân thụ”

f

Vì sao nói hai công trình nghìn tỷ của hạ Long không sánh nổi 12 cây bàng lá nhỏ bên vỉa hè Cọc 5?

Biệt thự sinh đôi, song lập ở Cọc 5 ảnh hưởng kiến trúc hiện đại Bauhaus, thấp thoáng hình ảnh Villa Savoye của Le Courbusier hay Villa Tugendhat với phong cách tối giản của Mies van der Rohe. Bên ngoài, trông nó có vẻ của một chốn dừng chân để chủ nhân chuẩn bị xuống du thuyền và đi ra một chốn bồng lai ngoài vịnh. Có thể nói, bản thiết kế này sang trọng nhất con đường Trần Quốc Nghiễn.

Khác biệt hoàn toàn với phần còn lại của những công trình bên con đường mang tên một vị tướng khá mờ nhạt của thời Trần, kiến trúc này thoát bỏ, giũ bỏ hết những trụ cột sừng sững, phào, chỉ cầu kỳ, vòm cong điệu đàng cùng mái dốc lợp đá Aridoise hay những cổng lớn, dày đặc trang trí thép duy mỹ  của kiến trúc Pháp xưa cũ.

 

Kiến trúc kiệm lời. Ngôn ngữ tiết chế. Phối cảnh mạch lạc, cởi mở, thoáng đạt. Trụ cột, kết cấu ẩn khuất sau những mảng tường thẳng, phẳng và trắng. Tường kính lớn, giản đơn cho phép kiến trúc kết nối nhiều hơn với chung quanh. Nội thất, ngoại thất giao hòa và mở ra những khoảng nhìn rộng, đẹp.

 

Sự thú vị của hai biệt thự song lập này là có chung một khu vườn lớn được tôn lên khá cao phía sau. Có thể người ta sẽ tìm thấy bên dưới khu vườn là một thế giới riêng tư, biệt lập và an toàn cùng với phòng họp kín, hầm rượu, rạp xem phim mini hay những công trình kỹ thuật, hậu cần, dịch vụ khác.

 

Từ mặt cắt của bản thiết kế có thể người ta sẽ dễ nhận thấy hơn những nhịp chuyển động cao thấp của những vạt cỏ, bồn cây, lối đi hay nơi dừng nghỉ. Với một thảm cây đa dạng chủng loại, đa tầng, đa dụng, khu vườn khiến người quan sát lờ mờ cảm thấy nó như chợt hiện ra từ một phần tiếp nối của núi đồi Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong đâu đó phía sau lưng.

 

Không có cơ may tiếp kiến chủ nhân biệt thự, trong lúc muốn gọi tên cho kiến trúc này, chợt người viết được hàng cây bàng lá nhỏ phía trước biệt thự gợi ý, mach tứ. Đây là những cây bàng Đài Loan hiếm hoi và duy nhất của con đường Trần Quốc Nghiễn.

Loài cây này giống như cây bàng lá đỏ của Hà Nọi, cây si của Quảng Bình xưa cũ trong khảo cứu công phu của linh mục linh mục Léopold Michel Cadière (1869-1955), cây phi lao cảnh Nha Trang trong ghi chép Xứ Trầm hương của Quách Tấn hay cây Mưa- raintree của người Singapore nhập khẩu từ Nam Mỹ…

Đó là loại cây xanh đô thị có rất nhiều ưu điểm nhưng tiếc là chưa mấy phổ biến ở phía Bắc. Tuyệt nhất là, người Đài Loan định danh loại cây này bằng một khái niệm tuyệt hay: Tiểu diệp lãm nhân thụ-  Cây lá nhỏ nhưng ôm chứa và thấu cảm toàn bộ yếu tính, cốt khí, thần khí của cây.

Hy vọng sau khi gắn bó với đời sống của chủ nhân, kiến trúc song sinh này sẽ như đôi mắt trong sáng đang say ngắm, tận hưởng một Hạ Long biến ảo.

3 (2)

Màu xanh dối lừa?

Từng cây xanh, mỗi sinh vật, sinh thể phải được đặt trong một vòng tuần hoàn của tự nhiên cùng những nỗ lực đích thực, nhân văn của con người.  Kiến trúc xanh-KTX- không phải là thứ đũa thần để dễ thay đổi ý thức, thói quen ứng xử vẫn đang từng ngày tàn hủy môi trường. KTX  không thể sửa sai cho những bản quy hoạch đô thị tồi. KTX  không phải là vỏ bọc mầu mè nhằm lạc hướng chú ý của mọi người trước những lỗi lầm của những bản vẽ thiết kế hay năng lực quản lý đô thị. KTX càng không phải là công cụ để đánh bóng tên tuổi, thương hiệu.

 

 

 

e (6)a

 

Diễn đàn kiến trúc Việt- Nhật được tổ chức trong bối cảnh VN, châu Á cũng như toàn cầu đang gánh chịu những mối đe dọa ngày càng gia tăng từ biến đổi khí hậu.

Liên tiếp từ đầu năm, chúng ta phải hứng chịu nhiều thảm họa môi trường. Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) vài lần nhận định Hà Nội có đợt ô nhiễm không khí cao và nguy hiểm nhất thế giới vượt cả Bắc Kinh ( Trung Quốc ) và Ardhali Bazar (Ấn Độ). TP Hồ Chí Minh thì ngập lụt đến mức “thất thủ”, đường phố thành thác và sân bay thì nước dâng thành biển.

Ngân hàng Thế giới tiếp tục loan báo mỗi năm VN có hơn 30.000 chết vì ô nhiễm không khí. Hà Nội có 5,5% dân số bị hen suyễn… Các nhà khoa học cảnh báo, nếu các nhà máy nhiệt điện hoàn thành và đưa vào sử dụng, vận hành đúng kế hoạch, mỗi năm sẽ có 45.000 người chết do khí thải của các nhà máy này.

Trong bối cảnh đó, thật ý nghĩa, khi phần lớn nội dung của giới KTS Nhật Bản đều hướng đến việc tìm kiếm, chia sẻ những giải pháp tiến bộ nhất để ứng biến với biến đổi khí hậu, kiến tạo một môi trường sinh thái với những thiết kế tiết kiệm tối đa năng lượng, hướng tới giảm phát khí thải, gây dựng lại một môi trường phát triển bền vững.

Trong mỗi chia sẻ của giới nghề Nhật Bản, dễ nhận thấy vóc dáng một đại thụ, một cây thần chồi lên từ nơi mặt trời mọc đúng như ngữ nghĩa của biểu tượng Phù Tang.

Đừng cắt cành Anh Đào … bỏ lọ!

Tiếc là những phát biểu cũng như phần trưng bày giới thiệu sản phẩm từ phía các đại diện VN dường như không mấy kết nối, tương thích hay đồng điệu với những gì mà giới KTS Nhật Bản.

Trong 3 KTS Việt tham gia diễn đàn, có hai người từng du học và làm việc nhiều năm tại Nhật Bản. Nhưng tham luận của họ lại khá mờ nhạt dấu tích từ không gian, thời gian cùng các giá trị tinh quý của xứ sở mà họ từng gắn bó, sinh sống, học tập và tu nghiệp.

Ngay với Võ Nghĩa tác giả được ban tổ chức giới thiệu là nổi tiếng nhất thì cũng không hơn gì. Phương pháp tiếp cận vẫn không mới. Nội dung phát biểu thì cũ kỹ, trùng lắp. Giải pháp nghèo nàn. Trong các công trình của KTS này, phần lớn phối cảnh được “mượn” đâu đó trên thế giới. Họ đào đắp thêm ô, hộc, chậu rồi cắt, dán, cắm thêm cây xanh đúng như cách mà người Việt vẫn ứng xử với đào phai, đào bích, đào vườn, đào rừng mỗi khi xuân về.

Đúng là từ huyền thoại xa xưa nhất của nhân loại, cây xanh luôn gắn liền với cảnh giới của địa đàng. Cây xanh góp phần biến đổi, làm đẹp cảnh quan, hạn chế bức xạ nhiệt, giảm nhiệt lượng trữ trong công trình, cung cấp bóng râm, góp phần tác động, thay đổi tình trạng “đảo nhiệt”, giảm phát thải khí CO2, kiến tạo hệ sinh thái mới bền vững cho đô thị vv và vv.

Nhưng điều đó, những tác động tích cực đó chỉ đúng khi từng cây xanh, mỗi sinh vật, sinh thể được đặt trong một vòng tuần hoàn của tự nhiên cùng những nỗ lực đích thực, nhân văn của con người.  Kiến trúc xanh-KTX- không phải là thứ đũa thần để dễ thay đổi ý thức, thói quen ứng xử vẫn đang từng ngày tàn hủy môi trường. KTX  không thể sửa sai cho những bản quy hoạch đô thị tồi. KTX  không phải là vỏ bọc mầu mè nhằm lạc hướng chú ý của mọi người trước những lỗi lầm của những bản vẽ thiết kế hay năng lực quản lý đô thị. KTX càng không phải là công cụ để đánh bóng tên tuổi, thương hiệu.

Hơn 10 năm qua từ khi đoạt giải quốc tế với những công trình có gắn nhiều cây, KTS vẫn chưa thiết kế được một bộ quy tắc ứng xử với cây xanh? KTS chưa tìm thấy một định nghĩa mới mẻ nào về KTX? Chưa thực sự có những giải pháp khoa học, cơ may có thể ứng biến với biến đổi khí hậu, môi trường? Chưa có những nghiên cứu tử tế về một hệ sinh thái mới, trong đó các công trình kiến trúc phải sử dụng nguồn năng lượng sạch, hạn chế vật liệu tiêu tốn quá nhiều tài nguyên, năng lượng? Không tìm thấy bất kỳ thông tin nào về đánh giá tác động, ảnh hưởng, hiệu quả của công trình xanh? Không thấy lượng hóa, so sánh, quy đổi hay bù đắp chi phí phát sinh từ tiêu thụ năng lượng cho sản xuất vật liệu xây dựng, làm mát, sưởi ấm, chiếu sáng hay thông gió? Không tìm thấy những tìm tòi thể nghiệm các chất liệu sử dụng năng lượng tái tạo? Không tìm thấy giải pháp thu hồi, tái sử dụng nước mưa? Không tìm thấy những thống kế, hướng dẫn, chỉ dẫn cần thiết về lượng gió, mưa, nhiệt độ, ánh nắng mặt trời cho thiết kế? Không có việc chọn lựa giống, loại cây có tán lá hay độ che phủ phù hợp với các loại ánh sáng? Không có lựa chọn nào với những giá thể giàu dinh dưỡng hay việc chăm sóc, phòng trừ sâu, bệnh cho cây mà không gây ô nhiễm? Chưa có sáng kiến nào cho việc trồng cây trên các loại mái ( nghiêng, dốc, cong, bằng, mái lợp tôn, mái ngói, tường đứng) vách ngăn, trên nhà chờ xe buýt, cột điện, hàng rào, gốc cây? KTS cũng bỏ trống hoàn toàn những lo toan, tính toán để duy trì, bảo hành những mảng xanh trong kiến trúc? ….

Với một não trạng buồn nản, thê thảm ấy, làm thế nào để biến kế hoạch Greening city- phủ xanh đô thị màu mè trở thành hiện thực hoành tráng? Làm cách gì để mỗi ngôi nhà, công trình có thể thay thế rừng đầu nguồn nhằm làm giảm nguy cơ lũ lụt nhờ trữ nước của cây xanh? Khi chưa hiểu cách thức lựa chọn, trồng, chăm sóc một loài cây, một lớp thực vật thì làm sao có thể tăng diện tích trồng trọt rồi tiến đến …tự túc tự cấp lương thực từ mái phố?
Nhận xét về những cái gọi là kiến trúc xanh này, KTS Đoàn Kỳ Thanh không ngần ngại gọi đó là những kiến trúc lừa đảo. KTS Nguyễn Trần Bắc thì ví những thiết kế này như kiểu Lý Quỳ, múa đi múa lại chỉ với đôi chùy của đám lục lâm thảo khấu. Nhẹ nhàng, dịu dàng, ít gay gắt và có phần tránh xung đột, trong bài viết “Công trình zero energy – Khái niệm, nhu cầu và giải pháp”, Ths. KTS . Trần Thành Vũ cũng cho rằng: các KTX đã  “tạo ra các tác động xanh giả tạo bằng cách trồng cây hay là sơn xanh trên bề mặt công trình với mục đích chụp ảnh và PR để có thêm hợp đồng thiết kế…”

Triết lý Bonsai
1a
Nhật Bản là đất nước với khoảng 67% diện tích cây xanh, rộng thứ 2 thế giới và chỉ đứng sau Phần Lan với 69%. Tokyo có gần 20% diện tích được phủ xanh. Ở quận Nerima diện tích phủ xanh cao nhất 25,1%, thấp nhất là quận Chuo với 7,3%.

Người Nhật không tàn phá rừng Anh Đào mỗi khi xuân về. Họ không chỉ giữ rừng nguyên sinh trong khuôn viên Đại học Saitama tại thành phố Saitama thuộc vùng Tokyo hay Công viên quốc gia Oishi ở chân núi Phú Sĩ…Họ trồng rừng ngay trên biểu tượng của hai chữ Phù Tang  , trên bông hoa cúc gia huy của Hoàng gia, nét khắc “ba cây nên rừng” trên triện của chính phủ hay biểu tượng của thành phố Tokyo được ghép bởi ba vòng tròn tạo hình một vòm cây xanh.

Với tinh thần đó, sứ mệnh đó, trong diễn đàn, các KTS Nhật đã giới thiệu rất nhiều những điều họ đã, đang và sẽ làm, những điều mà người Việt luôn yếu kém, thiếu thốn hoặc cố tình… lảng tránh.

Về quy hoạch, Mitsubishi giới thiệu kinh nghiệm rất quý từ dự án phát triển khu dân cư Izumi Parktown ngoại ô Sendai, dự án thiết kế cảnh quan môi trường Marunouchi- khu Trung tâm văn phòng nổi tiếng TG.

Về thiết kế kiến trúc, đại diện Taisei, KTS Maeda Yasutaka đã giới thiệu về những công nghệ xanh ứng dụng trong tòa nhà không năng lượng. Đó là tường kính nhiều lớp, có sử dụng tế bào quang điện, màng mỏng hữu cơ. Hệ thống điều hòa không khí cá nhân ( T – personal air)  với thiết bị cảm ứng nhận diện người, vị trí thực tế để điều khiển lượng gió, hướng gió thoát ra từ những cửa thổi gió cá nhân chuyên dụng có thể điều khiển từ máy tính cá nhân tùy theo ý muốn. Hệ thống tự động chiếu sáng với thiết bị cảm ứng sẽ nhận diện người, vị trí thực tế để điều khiển ( tắt, bật, giảm) ánh sáng trong phòng. Hệ thống gió tự nhiên có thể đưa gió vào trong nhà qua những cột ống thông gió đứng, đối lưu gió tự nhiên, giảm thiểu thiết bị và điện năng tiêu thụ khi sử dụng điều hòa.  Hệ thống quản lý năng lượng (T-green BEMS) cùng với việc hữu hình hóa việc sử dụng năng lượng, hệ thống tự điều chỉnh, cân băng 3 yếu tố: sinh năng lượng, sử dụng, tiết kiệm, hỗ trợ người quản lý hạn chế những thời điểm sử dụng điện  cao điểm, giúp tiết kiệm, sử dụng năng lượng một cách thông minh.

Gần cuối diễn đàn, trong lúc Võ Nghĩa và phần lớn những KTS  VN đã bỏ về, KTS Motochisa Takanashi của Nekken Sekkei lại đề cập tới những vấn đề nhỏ bé hơn nhưng cực kỳ thiết thực. KTS nói về cách giữ cho các giá thể giàu dinh dưỡng, cách phòng trừ sâu bệnh cho cây mà không ô nhiễm; Cách lựa chọn giống cây cho phù hợp từng không gian hay việc chăm sóc cây xanh như một sinh linh chứ không phải là công cụ, phương tiện. Motochisa Takanashi bày tỏ rằng: “Trồng cây, kiến tạo kiến trúc xanh phải là một lẽ tự nhiên, chúng tôi ứng xử với mỗi phận cây như là khi tạo tác Bonsai.”

Chỉ với biểu tượng văn hóa Bonsai, Nekken Sekkei lại cho thấy những hành trình thật dài của văn hóa kiến trúc một dân tộc. Nó đủ để một thao tác, ý thức, cảm hứng làm vườn, kiến tạo kiến trúc xanh có thể hòa hợp, đồng nhất và lan tỏa tinh thần Kami- Wabi- Sabi (tạm hiểu là thần linh-thần thức-thần hứng).

Hành trình đó dường như được hiển thị từ huyền thoại Phù Tang đến sự hòa hợp của thiên nhiên và tâm linh như người ta có thể tìm thấy trong thiết kế của Nihon Sekkei; Có tầm nhìn xa rộng cùng những chăm chút chi tiết,

tỉ mỉ, tinh tế như quy hoạch của Mitshubisi; Có tìm tòi vận dụng những công nghệ tiên tiến như Taisei, Toda; Có sáng tạo không gian sinh thái như Nihon Sekkei… Chỉ với những giải pháp, con đường hay dòng chảy như thế, kiến trúc mới thực sự giúp cho con người, thiên nhiên kết nối, hòa hợp và thân ái với nhau hơn.

( Những bức ảnh trong bài viết này được chụp chung quanh dự án Rừng Cọ mà Kume Design Asia đã thực hiện ở Hà Nội.)

Box:
Diện tích cây xanh trên đầu người ở một số thành phố lớn của châu Á:

1- Hongkong : 105,3m2

2- Bắc Kinh 88, 4 m2

3- Singapore: 60 m2

4- Kuala Lampur: 43, 9 m2

5- Deli: 18,8 m2

6- Tokyo : 10,6m2

7- Bankok: 3,3 m2

8- Jakarta: 2,3 m2

Mức trung bình của Đông Á là 66,2 m2/ người. Hồ Chí Minh: 0,7 m2/ người

( Nguồn: tham luận trong Diễn đàn KTVN)

 

Chú thích ảnh:

  • A1, a2: Tường cây đa tầng là vách ngăn quốc lộ và khu đô thị
  • B1, b2: Cây xanh đại lộ trung tâm và các tuyến phố
  • C1, c2, D1, 4, 7: Tuyến cây trên đường phố trong các tiểu khu
  • E 1, 2, 3, 4: Cây xanh trong công viên, lối đi dạo ven mặt nước, bờ hồ
  • F 2, 3, 4: Khoảng đệm xanh giữa khu dân cư và đường quốc lộ. Phía sau không gian xanh này là đường cao tốc ( f 2, 3: nhìn từ WC.

 

 

 

 

 

 

Ngôi nhà lý tưởng của người Thái và hạt bobo của người Việt

 

5a
Một góc Nhà máy xi măng Sarabury Thái Lan
Chất liệu, vật liệu gì, tiến bộ khoa học, công nghệ mới nào đã và đang giúp người Thái kiến tạo từ mỗi ngôi nhà, những đô thị năng động đến những thời đại văn hóa khác biệt, vượt trội so với nhiều nước trong khu vực?

Những câu trả lời giản đơn, trực tiếp, có thể dễ dàng tìm thấy tại Triển lãm kiến trúc lớn nhất Asean – Architect Expo 2017 (Bangkok).

Còn ai muốn tìm hiểu, cắt nghĩa những vấn đề gợi mở, thiết thực hơn với văn hóa Việt, họ rất nên đồng hành với SCG để tự tìm kiếm “Ngôi nhà lý tưởng của bạn” như thông điệp lớn mà tập đoàn công nghiệp hàng đầu Thái Lan này muốn lan tỏa .


Dòng chảy Baan Baan?

140G3736 a

Thần Hanuman nuốt để bảo vệ Hoàng cung trong sử thi Ramakien (tranh tường trong Hoàng cung)

Chủ đề chính của Architect Expo 2017 là  “Baan Baan Reconsidering Dwelling” – Hãy thay đổi quan niệm về ngôi nhà, chốn ở.

 

Theo tiếng Thái, Baan là ngôi nhà. Baan Baan gợi cho tôi nhớ câu thành ngữ của người Thái cổ: Ba ngôi nhà làm nên một ngôi làng. Khi chiết tự, chữ Baan ghép cùng có thể là một cách dùng điệp từ, chơi chữ đồng âm. Đó có thể là “Bang”- một từ chỉ ngôi làng bên sông? Là “Bang” trong Bangkok- thành phố của những thiên thần? Bang là một vụ nổ, sự bùng nổ?

Và khi nghe người Thái luyến âm thật dài “Ba…an B… a…a…n..”, tôi đã có liên tưởng rất gần với những ca từ dịu êm mà nàng Sita chia sẻ cùng Hoàng tử Rama trong sử thi Ramakien. Đó là nhịp khoan thai, mê hoặc của bàn tay vũ nữ trong điệu múa cung đình cổ Lakhon. Có gì như đang phiêu diêu cùng những ngọn gió trên đỉnh cao của chùa Arun … Mọi suy tưởng cứ chuyển động, lan tỏa không ngừng. Như thể tôi đang rất gần với Chao Phraya-dòng sông Mẹ, dòng sông của các vị vua, dòng sông của Hoàng gia. Nơi đây đã tụ hợp, lắng lọc, kết tinh rồi kiến tạo nên những kiến trúc tiêu biểu nhất, những đô thị lớn nhất cùng các thời đại văn minh của Thailand.

Có lẽ vì thế mà Architect Expo 2017 không chỉ còn là cơ hội để giới nghề, nhà thầu, chủ đầu tư, người tiêu dùng tiếp cận và hiểu rõ hơn về những công nghệ Living Tech, xi măng tiến tiến cho máy in 3D hay các giải pháp cách mạng khác trong xây dựng kiến trúc xanh…  ?

 

Paul Doumer và vua Rama VI

1200px-Paul_Doumer

Toàn quyền Paul Doumer ( 1897- 1902)

Với tôi, Baan Baan lớn rộng hơn khung khổ vật chất của một ngôi nhà hay nơi chốn ở. Ý nghĩ này định hình rõ hơn khi tôi tới Tòa nhà 100 năm của SCG.

Với những tiên phong về thiết kế kiến trúc, đột phá về công nghệ và sử dụng vật liệu xây dựng mới, tòa nhà đầu tiên của Đông Nam Á đạt chứng chỉ LEED hạng cao nhất Platinum chính là một mô hình, một biểu tượng khá hoàn hảo về “Ngôi nhà lý tưởng”.

0aVua Rama VI

Trong sảnh tòa nhà có treo trang trọng bức chân dung vua Rama VI – người được vinh danh là nhà kiến tạo một xã hội Thái hiện đại. Ông cũng chính là cha đẻ của ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, người đỡ đầu cho nhà máy xi măng đầu tiên của SCG.

Chung quanh bức tranh nhà vua là những tác phẩm kết hợp tinh tế giữa nghệ thuật và kỹ thuật, giữa tiện ích, công năng và những quan niệm nhân văn về không gian sống. Đó là bức tường treo tranh được phủ một loại sơn có thể kiểm soát tốt nhất mức độ bay hơi và độ ẩm;  Hệ thống T5 và những ngọn đèn có thể tiết kiệm tối đa điện lượng tiêu thụ; tường kính cách nhiệt, cửa sổ hai lớp có thể ngăn sáng, giảm bức xạ nhiệt, làm mát, sàn trải loại thảm có thể hấp thụ tối đa bụi….

140G5106 aBom ngưng nổ bên cây cầu trên sông Kuay? Người Thái không thà hy sinh tất cả để thắng đế quốc to, để độc lập trở nên phi lý, vô nhân?

 

 

Và chân dung Rama VI chợt làm tôi liên tưởng đến những di sản của Paul Doumer- Toàn quyền Đông Dương những năm 1897- 1902.

Năm 1899, Paul Doumer là người đặt những viên đá đầu tiên xây nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy đầu tiên của Đông Dương. Vài năm sau đó, xi măng Con Rồng bao phủ thị trường Đông Nam Á tới vùng Viễn Đông.
Paul Doumer là một thủ lĩnh thực dân đầy nhiệt huyết và tầm nhìn địa chiến lược vỹ đại. (Sau 1905, Việt Nam và Đông Dương chưa tìm thấy một thủ lĩnh nào hơn P. Duomer?) Trong khi ông cơ bản thiết lập xong một bộ máy cai trị mới, hiệu quả và đang triển khai hàng loạt dự án xây dựng cơ sở hạ tầng chưa từng có trong suốt mấy nghìn năm lịch sử Đông Dương và thế giới thì Rama VI vẫn đang miệt mài tập cưỡi ngựa, bắn súng ở Trường Cao đẳng Quân đội Hoàng gia, Sandhurst hay miệt mài cùng môn luật và lịch sử tại Christ Church, Oxford, Anh.
Nhưng từ khi Rama VI lên ngôi và hơn một thế kỷ sau đó, lịch sử hai xứ sở lại có những vận động, đổi thay theo hướng khác ngược và rất đáng suy ngẫm.
Tiếp nối truyền thống của Hoàng gia, Rama VI hành xử như Rama II hòa hoãn với Bồ Đào Nha, như Rama IV cầu thân với Anh hoặc kiềm tỏa những xung đột với Pháp như Rama V.

Ông chọn mở cửa với phương Tây,  nỗ lực cao nhất để phát triển kinh tế và bảo vệ lợi quyền của người dân, né tránh chiến tranh tàn hủy, sẵn sàng hòa hoãn, thỏa hiệp, bắt tay, cắt đất cho kẻ thù, không giành “độc lập” bằng mọi giá để có thể tiếp nhận những cơ hội tốt nhất từ chính các xung đột văn hóa Đông- Tây.

Vượt qua những người tiền nhiệm, Rama VI xác quyết về lộ trình để đất nước phát triển phồn vinh thì không thể chỉ dựa vào ý thức dân tộc của người dân vốn chỉ được gây dựng từ lòng yêu nước, trung thành với vua và đức tin Phật giáo.

Rama VI đẩy mạnh hơn nữa phát triển kinh tế Tư bản, đặt nền móng cho xã hội dân chủ, khích lệ tự do ngôn luận , tự do báo chí , đổi mới cấu trúc cùng phương thức hoạt động của bộ máy chính quyền. Rama VI thủ tiêu chế độ nô lệ như Tổng thống Mỹ A.Lincoln. Ông xây dựng Royal Pages College trường đại học đầu tiên theo mô hình giáo dục Anh.  Ông đẩy nhanh hơn tiến độ xây dựng các tuyến đường sắt so với những người kế nhiệm của “vua đường sắt” P. Doumer. Ông cho khai mở công nghiệp đóng tàu và khai trương công ty vận tải Siam- Hoa. Rama VI cũng khởi công xây dựng sân bay Don Mueang, mở ra kỷ nguyên mới cho việc chinh phục bầu trời cho người Thái …

2 (1).JPG
Cầu tàu vận chuyển xi măng của nhà máy Don Muang xây dựng từ 1913 vẫn được bảo tồn.

Trong tiến trình hào sảng đó, SCG hưởng lợi rất nhiều từ một nền tảng chính trị vững mạnh, ngoại giao khôn khéo, nền kinh tế năng động và một xã hội khá cởi mở, tự do. Sau 104 năm, từ một Nhà máy Don Mueang, SCG trở thành tập đoàn đa ngành, đa quốc gia hàng đầu của Thái Lan. Cơ sở sản xuất  xi măng đã vươn ra khắp Đông Nam Á. Ngược đường với Rồng Xanh- Việt Nam năm nào, các nhà máy xi măng SCG đã xuất hiện từ miền Nam, Trung đến Bắc Trung bộ. Sản phẩm gạch lát nền thì chiếm thị phần rất đáng kể…

Hạt bobo trong bát chè Thái

yeu to2

Sinh ra và lớn lên ở một nơi rất gần nhà máy xi măng Hải Phòng cũ kỹ, lạc hậu, bệ rạc, bẩn thỉu, ô nhiễm, tôi có phần ngỡ ngàng khi đến thăm một Trung tâm nghiên cứu, cải tiến, phát triển xi măng và nhà máy xi măng ở Sarabury.

Thật ấn tượng với những tác phẩm chân dung nhà vua, hoàng gia Thái hay biểu tượng SCG mà các nghệ sỹ đã thể hiện trên chất liệu xi măng trang trí. Trí tưởng tượng và ước mơ về một kiến trúc xanh đích thực ở Việt Nam của tôi được kích hoạt khi tiếp cận những sản phẩm xi măng nhẹ, xuyên sáng, chiếu sáng, đổi màu, giảm hấp thụ nhiệt hay vật liệu cho công nghệ in 3D…

Nhưng thật lạ, điều ám ảnh, khó quên hơn lại nhỏ nhặt đến tầm thường.

Nhà máy xi măng lọt thỏm giữa một cánh rừng già. Trong nắng hè, dưới bóng những cây Mưa đại thụ, vạt tre cao, dày, gió mát như quyện hương bạch đàn, hoa đại và cỏ dại. Sân trước, trên một con suối, có chiếc cầu thép giống như một tác phẩm điêu khắc được làm từ vỏ lò nghiền clinke hay bồn chứa xi măng cũ……Nơi chúng tôi ăn trưa như đặt trong một khu resort nhỏ xinh.

 

Cuối bữa ăn, tôi chợt thấy những hạt bobo dưới đáy bát chè Tào Thing-Taowting. Người Anh gọi là job’stear- những giọt nước mắt của nhà nông(?) Người Thái gọi là Luk deuxy, hư từ này không mang tải hay ẩn dụ ý nghĩa nào?

download

Di sản của nhà máy xi măng đầu tiên ở Đông Dương chỉ còn từng này thôi sao?

Bát chè Sarabury ngọt mát hôm nay bất chợt gợi nhớ ký ức khốn cùng của những năm 80.

Tôi từng vừa nhai bobo, vừa phóng, ngâm, rửa ảnh suốt đêm trong thứ nước máy sền sệt bụi thải của lò cao xi măng. Từng trực tiếp quan sát Đỗ Mười, Đinh Đức Thiện, Đồng Sỹ Nguyên- các Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Giao thông vận tải cùng các tướng lĩnh quân đội ( Đại tá An Đông tham gia …bảo vệ cảng) đứng ngóng chờ từng chuyến tầu chở bobo từ Liên Xô.  Họ chờ đời gì từ những thứ thức ăn mà Xô cộng chỉ để dành cho súc vật?

Ngày ấy, khi đi ca, những người thân của tôi thường mang theo khẩu phần ăn đầy bobo luộc  trong chiếc cạp lồng nhôm. Cuối ca, họ lèn chặt vào đó những cân xi măng đã lén lút ăn cắp được. Từng ngày, mỗi tuần, hàng tháng toàn bộ thực phẩm của gia đình, áo quần, sách vở, thuốc chữa bệnh hoặc sữa cho các con… đều trông chờ vào việc mua bán, trao đổi những hạt xi măng nhỏ mịn đó…

 

Đến bây giờ tôi vẫn không thể hiểu vì sao người Việt lại lấy một tính từ, tính ngữ chỉ sự ích kỷ, ti tiện, hà tiện, bần tiện hay sự trì néo thiếu khôn ngoan, không thể thay đổi để gán cho thứ lương thực thiết yếu một thời đó?

Chợt có gì đó khuyên tôi gạt bớt những ký ức đau buồn, hãy mở lòng, an vui hơn, nghĩ khác đi và tìm kiếm những kết nối nhân văn hơn từ hạt bobo Việt Nam đến từng hạt xi măng SCG, từ Nhà máy xi măng Hải Phòng bên dòng sông Cấm đến Tòa nhà 100 năm bên sông Chao Phraya, từ Paul Doumer tới Rama VI?

Hơn cả những giọt nước mắt của nông dân Anh, hơn một gia vị thêm nếm của chè Thái, vô tình, hạt bobo chỉ cho tôi thấy những câu chuyện chẳng  nhỏ nhạt, không mỏng ngọt.

1 (1)a

Tòa nhà 100 năm của SCG được xây trên nền nhà máy xi măng đầu tiên của Thái Lan là thế này đây?

Từ những bao xi măng đầu tiên ở Don Muaeng, để có những nhà máy xi măng sạch ở khắp Đông Nam Á, các trung tâm khoa học tiên tiến như ở Sarabury cho đến ước mơ kiến tạo Ngôi nhà lý tưởng cho cả Đông Nam Á hôm nay, SCG và người Thái đâu chỉ cần những thủ lĩnh xuất sắc như P. Doumer. Họ đã vượt qua những thụ động, yếm thế, mặc cảm trước sức mạnh thực dân phương Tây bởi chính tầm nhìn kiến tạo đất nước của Hoàng gia, quyết sách ngoại giao khôn khéo của mỗi triều đại đến nỗ lực của từng người dân hay bản lĩnh của mỗi doanh nghiệp. Tất cả nguồn lực, sức mạnh của một xã hội đều được tiếp nối mạch nguồn, tràn đầy năng lượng sống và vận động không ngưng nghỉ để tạo nên một chuỗi những vụ nổ, sự bùng nổ, những biến đổi.

Để kiến trúc hay văn hóa Việt Nam có được một Ngôi nhà lý tưởng như thế, có lẽ, chúng ta hãy thử bon bon cùng Baan Baan?

Xứ Đoài tạnh nguồn?

Bài Xuân Bình. Ảnh Hải Sơn

Sau 10 năm bị xóa sổ, Hà Tây, xứ Đoài trở thành con tin cho một bản quy hoạch đầy cuồng vọng của những kẻ cướp đất có môn bài?

DCIM100MEDIADJI_0197.JPG

Viettel vẫn thiếu đất để xây những tham vọng

Xứ Đoài- Hà Tây cũ được tạo nên bởi những dòng chảy thao thiết của dãy Ba Vì, đồi, rừng Hòa Bình cùng lưu vực các sông Tích, Sông Đáy, sông Đà, sông Hồng. Theo lẽ tự nhiên, dòng chảy nào thì cũng có những khúc quanh, khi đổi dòng, lúc dâng đầy, mùa khô hạn. Nhưng văn hóa xứ Đoài thì khác, sẽ khác? Nó có thể dần thu hẹp lưu vực, đổi dòng, có lúc đoạn nguồn nhưng không thể đứt mạch?

Vẫn đó, từ bao đời xưa, xứ Đoài choài choãi nhận lũ tràn vượt sông Hồng, sông Đà để bồi đắp, nuôi dưỡng châu thổ, gia cố nền phù sa trẻ,  khởi tạo những vùng đất mới, lớn rộng và không ngừng vươn ra biển.

iĐường Lâm 2005- ảnh chụp đám cưới con gái ông NKĐ cựu Bộ trưởng văn hóa, cựu Trưởng Ban Tư tưởng- văn hóa

Từ khởi thủy, người xứ này lập làng cổ với những làng nghề tằm tang, xe tơ, dệt lụa, đan tre, lợp nón, trồng lúa, tra tỉa rau màu để gầy dựng một đời sống yên ấm.  Họ xây thành, đắp lũy để bảo vệ những thành quả được gây dựng bằng bao xương máu. Họ đào bới đất, tìm kiếm vật liệu ngay dưới chân mình, dựng nhà bằng đá ong, cất đình bằng gỗ rừng, xây chùa trên đồi cao, hang sâu. Họ mượn tên dụng cụ, vật liệu xây dựng, khả năng thấu cảm mạch đất, dòng nước hay ước mơ an lành về chốn ở để đặt tên xóm thôn, làng, tên đường.

Bởi thế, ít nơi nào trên đất nước này lại có các địa danh như Chàng Sơn(Chàng là cái đục), Ngõa Thổ (Ngõa là loại  đất chuyên làm gạch, ngói. Ngõa cũng chỉ những người thợ chuyên lợp ngói), Phùng Xá, Hòa Xá, Thạch Thất, Thạch Xá, Trạch Lôi, Trạch  Mỹ Lộc, ?), Thôn Thạch (Xá, Thất, Trạch đều có thể hiểu là ngôi nhà) Phú Cát, Giã Cát (Cát ngược nghịch với hung và thường được hiểu là tốt lành), Thạch Thán (dòng sông đá?)

Hàng nghìn năm qua, những tinh quý của một vùng văn hóa xứ Đoài cứ lắng lọc, tích tụ và trở nên màu mỡ, phì nhiêu từ những chất liệu, tế bào nhỏ bé, bình dị như thế.

g

Khu Du lịch sinh thái Tuần Châu- Chùa Thầy vẫn đắp chiếu suốt 10 năm qua?

Tiếc là, gần đây thôi, nhất là từ khi bản đồ hành chính không còn tên gọi Hà Tây, lưu vực văn hóa Xứ Đoài có xu hướng teo tóp, lững lờ, ngơ ngác? Và các đường phân thủy mới của Xứ Đoài cứ làm rã tan, vữa ra các trầm tích văn hóa vốn được tinh cất từ bao đời nay.

Thật khó tin là các làng cổ đều say sưa, ngất ngưởng, hừng hực lên phố. Làng nghề mất dấu. Làng khoa bảng ao lấp, giếng bẩn, ngõ vẹo, nhà xiêu, hoành phi thếp sơn tàu óng ánh, câu đối dán gắn đầy chữ của những bút nô, háo danh… Các dự án lớn đều chậm chạp, ngưng trệ và thiếu sinh khí. Những nơi thơm ngon nhất xứ Đoài đều đang rùng rùng trở thành một thị trường bất động sản nóng rãy.
Dưới chân Ba Vì huyền thoại, từng ngôi làng như những gen đột biến hay các tế bào gốc phát triển mất kiểm soát. Cơ thể xứ Đoài vướng bệnh nan y.
Để chẩn mạch hiện trạng, tìm kiếm giải pháp chẩn trị cũng như chẩn đoán tương lai Xứ Đoài, không có gì khác lại phải lần tìm về những làng cổ đang gượng sống bên hành lang của những “Con lộ phát triển”?

DCIM100MEDIADJI_0214.JPG

Đường Lâm 2017 còn là làng cổ

Đâu Chàng Thôn?

k

Chỉ có một khung nhà gỗ duy nhất của Chàng Sơn huyền thoại được một kiến trúc sư nhọc nhằn, gồng mình dựng lên.

Chàng Sơn vừa mở không gian trưng bày những sản phẩm tiêu biểu và giới thiệu thương hiệu của làng. Những ngày cuối xuân, đầu hè mưa và mù. Từ đây không thể nhìn thấy Ba Vì. Không xa, biểu tượng của GIÁC NGỘ, chùa Tây Phương cùng các vị La hán như trốn lấp hay khuất lấp trong những lùm cây. Bên con đường, đại lộ của Đồ gỗ nội thất thời DOIMOI, làng nghề dúi dụi vì thị trường bị điều khiến bởi những người mới giàu, ưa đồ tàu. Chỉ có một khung nhà gỗ duy nhất của Chàng Sơn huyền thoại được một kiến trúc sư nhọc nhằn, gồng mình dựng lên.

Có gì quá hụt hẫng so với ngày xưa cũ?

Từ một hiện thực xứ Đoài rực rỡ, Nguyễn Tuân từng chép lại huyền thoại Trên đỉnh Non Tản- Vang bóng một thời. Trong câu chuyện ma mị đó những người thợ ngõa, thợ mộc nổi tiếng nhất của làng đã từng được thần núi Tản giao cho họ đảm trách việc cất đền, dựng đài, xây sửa miền tiên cảnh sau mỗi lần Thủy thần dâng nước đánh ghen.

Nhưng hôm nay, với hậu duệ cụ Cả Sần, viễn ảnh sơn thủy, cảnh giới thần tiên, giấc mơ bồng lai chỉ còn vương lại trên những món đồ cổ với dấu men lam đậm nhạt hay cốt gốm cổ mỏng tang.

b

Ước mong về một chữ AN chỉ kịp khắc khảm tượng hình trên lớp vỏ trai lóng lánh, mỏng manh gắn trên những sập gỗ hương, tủ chè gỗ trắc. ( trong chữ Hán, tượng chữ AN có một người đàn bà ngồi, quỳ dưới mái nhà)

Khó tìm thấy đồ án trang trí mới nào có thể thể hiện, tái hiện được những gì mà phù điêu đình Đoài đã từng tạo nên những tầm vóc, giá trị lớn nhất cho mỹ thuật Việt cổ. Gần như biến mất những nhát chạm bong, chạm lộng, chạm nổi thừa thô phác, rất mộc mạc mà đầy ngẫu hứng và không bao giờ lỗi, cũ.

Chàng Sơn phơ phếch. Thủy đình khô xác. Làng đang mùa vét nước, rắc vôi, tẩy rửa cho ao bớt tù, nước không đọng.

Sau đình làng, có con chó đá đứng bơ vơ cùng duy nhất một cái chân hương cong queo. Nó không thích cách chau mày, suy tư của các triết gia hay nhà tư tưởng La Hán? Nó quay lưng lại với đỉnh Ba Vì nơi Sơn Tinh sa chĩnh gạo và đang ôm Mị Nương ngủ vùi trong mù mưa? Mắt nó khắc khoải nhìn về đâu? Nó rất muốn đến cầu Khum? Nơi đó, ai mất gì, tổn thương, xót xa gì cứ ra đó mà cầu, mà nguyền. Truyền thuyết mới bảo thế!

Đối sách Đôn Thư?

Trong mọi hành trình khảo cứu xứ Đoài, người ta không thể bỏ qua làng khoa bảng Đôn Thư. Cũng như Chàng Thôn và bao làng quê khác, Đôn Thư hôm nay cũng có những câu chuyện buồn, rất buồn.
d
Gia Hương?

Thật khó quên về số phận xiêu dạt, long đong của Gia Hương- ngôi nhà quan Tế Tửu (chức quan quản lý Văn Miếu Quốc Tử giám). Ngôi nhà đó, kiến trúc đó cũng không khác làng quê này là mấy? Nó cũng như một xứ Đoài thu nhỏ- nơi đang dung chứa bao xung đột, mâu thuẫn, nghịch lý của phát triển?

Từ Hà Tây giạt về Nam Định. Từ nơi ở của người quyền quý được vua ban bốn chữ Túc tĩnh- Hồi tị (dừng chân, lánh xa để giữ vẻ trang nghiêm), ngôi nhà đã trao phận và làm showroom cho một kẻ trọc phú, gian hoạt.

Dẫu sao nó đã trở về sau những vụ phá dỡ, bán mua và chuyến ly hương tức tưởi, nhục nhằn? Nó đang được phục dựng lại sau bao mất mát, đổ vỡ? Nó mới tái sinh phần vỏ xác và vẫn nhạt nhòa hồn cốt? Nó rất cố công tập hợp nhiều món đồ mới đắt giá? Nhưng sẽ còn phải đợi chờ khá lâu để tự nó có thể bù đắp những hụt thiếu cảm xúc, ký ức cùng vết dấu của quá khứ?

Khi cần, thay vì nhiều lời và nặng phần trình diễn, nó sẽ tĩnh lặng, trầm lắng, vô ngôn, tự tại như đã từng …

o2001, chuyển về Sùng Văn, Nam Định, Gia Hương từng có một cái tên khá mỹ miều Thọ Phong

Nhưng may mắn thay, không gian Đôn Thư hôm nay không chỉ có Gia Hương. Bên trong, dưới rất sâu những lớp trầm tích văn hóa của chính ngôi nhà đó và của làng vẫn lưu trữ, cất giấu gì đó rất khác thường, phi thường. Nó mách bảo mỗi phận người, từng dòng họ, một ngôi nhà, góc chợ, sân đình hay mái chùa đến những phương cách và cả lộ trình có thể thay máu, nuôi cấy lại tế bào gốc khỏe khoắn, sẵn sàng bắt nhận, tiếp nhận những mạch nguồn truyền thống để tiếp tục hồi sinh.

1Hơn 20 năm qua, tôi vẫn tìm kiếm để có thể giải mật mã xứ Đoài- trống đồng Ba Vì?

Không khó tìm, bên đường đi chùa Hương là Quán Vua. Nơi đây không chỉ lưu truyền truyền thuyết vua Phùng Hưng từng dừng nghỉ trong mỗi lần tới thăm, diễu duyệt cùng binh tướng. Hôm nay, trong một làng quê đang bị đô thị hóa, nơi đây tựa như một ốc đảo. Vì lẽ nào đó, ngay trong những ngày oi nồng nơi đây vẫn mát lành. Ngay cả khi chung quanh lặng gió thì mỗi tán lá Quán Vua như vẫn ào ào tiếng quân reo. Có phải sức mạnh của tự nhiên và niềm tin tâm linh đã mượn những đại thụ để tạo nên không gian này một vẻ đẹp hiếm hoi, một quyền lực của thiên nhiên nguyên sơ.

Trong đình làng, trên phương đình vẫn còn câu đối ngợi ca làng có lịch sử dài lâu, do trời tạo tác. Nơi có những đầm sen từng tồn tại hàng vạn năm như cái rốn của một vùng địa linh (Ngân Phố  niênthiên tác hợpLiên Đàm vạn cổđịa trung linh). Trong chùa Thắng Quang, trên quả chuông cổ đúc từ thời vua Lê Hy Tông – Chính Hòa (1680-1705) còn ghi khắc cái tên ĐÔN THƯ- .  Mộc mạc nhất thì có thể đọc Đôn Thư là – Thôn Sách? Có thể hiểu đây là vùng đất mà trăm họ đều biết trân quý sách Thánh hiền? Nơi đây đã và sẽ viết nên những cuốn sách về sự chất phác, điều tử tế, lòng trung hậu? Khi chiết tự chữ ĐÔN, có thể suy luận Đôn Thư là cuốn sách Trời? Nó đưa dẫn con người tìm đến với mặt trời, tới ánh sáng của nhận thức, tới chân lý?

Để hiểu thêm về Đôn Thư xin đừng bỏ qua tên hiệu Thư Trì- Ao Sách của cụ Vũ Phạm Hàm một người con nổi danh bậc nhất Thôn Sách.

Để thực sự nhận biết tâm thế, tư thế Đôn Thư, có lẽ người ta phải lần giở lại cuốn Mộng Hồ gia tập. Gia phả họ Phạm Vũ chỉ có 29 tờ, 58 trang, mỗi trang 8 cột, mỗi cột 18 chữ, ngót 900 chữ Hán. Một người tài hoa như cụ Tam Nguyên Thám Hoa đã phải cẩn trọng viết trong hơn 3 năm.

Để trả lời, định nghĩa đầy đủ và chính xác hơn về một khái niệm Đôn Thư, người ta còn phải tiếp tục tìm kiếm, khám phá lại những di cảo của cụ Thám Hoa. Vượt qua những gia phả được viết khoa học, nghiêm cẩn hay những vần thơ đầy tâm trạng của một trí thức lớn, phải kể đến bài thi Đình mà cụ Thám Hoa đã dâng lên vua Thành Thái trong năm thi Nhâm Thìn 1892.

Trả lời những nghi vấn, âu lo của nhà vua, trong kế sách của mình, Tam Nguyên Thám Hoa chỉ một lòng mong ước mùa màng phong đăng, làng xóm được an lạc, cơ nghiệp nhà Nguyễn được dài lâu, làm mẫu mực chính trị cho đời sau như Nghiêu Thuấn, thi hành vương đạo, đưa đạo đời đến thăng bình như thời Chu, Thương, Hạ.

Với ông, trong một xã hội nhiễu loạn, để thực hiện những lý tưởng đó, đối sách quan trọng nhất phải đạt tới là sự hài hòa “Chính dân đức, lợi dân dụng, hậu dân sinh” (Chính sự, trước nhất lấy cái Đức làm gốc, nền tảng. Lấy ích dân làm lợi quốc. Tiếp sau là trọng hậu đời sống người dân). Và vấn đề cốt tử để hiện thực lý thuyết tam Dân ấy, bậc vua sáng phải là cẩn trọng, công tâm, sáng suốt khi dùng người. Người chăn dân phải “yên trị người ở gần, tôn sùng người có đức, tin cẩn người có nhân và cự tuyệt kẻ gian tham, ác hiểm”. Quan lại phải xứng chức…

Sau hơn một trăm năm, những tâm tư đó của Tam Nguyên Thám hoa cũng chính là liệu pháp, phác đồ điều trị, kế sách lớn nhất để có thể vãn hồi rồi thiết kế lại một không gian văn hiến xứ Đoài!

a

Bao giờ người xứ Đoài mới theo kịp bước chân cụ cả Sầnđể ngược xuôi miền tiên cảnh? (ảnh chụp một đĩa cổ của người làng Chàng Sơn)

Lương tháng cho con

 

doc-tien-2010-05-oil-150x150cm-p02-resize.jpg

Trong thời của Tư bản Đỏ, đồng tiền cần được định nghĩa thế nào? (Tranh Phạm Huy Thông)

Con học lớp 9, đã có nhiều nhu cầu chi tiêu mới, cần thiết và chính đáng. Lịch học chính, học phụ dày đặc, lớp học ở nhiều nơi nên con phải đi lại nhiều hơn, bạn bè đông hơn, quan hệ, giao thiệp rộng hơn. Và… hình như con cũng đã có… bạn gái.

Để “vận hành” cái nhịp sống quá tải, quá vất vả và đáng yêu này chắc là rất cần một khoản tài chính nho nhỏ, một cái hầu bao xinh xinh.

Không có tiền trong túi sẽ chẳng làm được gì. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì chân lý đó không bao giờ thay đổi.

Đang chở bạn gái đi chơi, sẽ thế nào khi thủng xăm và hết tiền bơm vá xe? Có thể con sẽ là người hào hiệp hơn nếu vui vẻ mời các bạn, các “vợt thủ” một cốc nước mát sau trận cầu nóng bỏng. Cũng sẽ vui hơn khi góp tiền cùng bạn bè mua bánh ga tô mừng sinh nhật cô giáo cũ…

Tiền hay như thế, tuyệt vời là thế nhưng không phải khi nào người ta cũng hiểu đúng về nó. Hồi còn bé, để xây dựng một xã hội ảo tưởng, người ta mượn ý của một đại văn hào phương Tây để nhồi sọ thế hệ của bố rằng đồng tiền là con điếm của nhân loại.

Để tô vẽ cho những giá trị đạo đức giả họ mượn dẫn, đánh tráo khái niệm trong kinh sách Tàu và rao giảng: “Hoàng kim hắc thế tâm”- đồng tiền, vàng bạc làm đen tối lòng người. Ngày bố bằng tuổi con, cả đất nước cùng cực đói khổ, cùng cực khốn khổ, nhân dân làm thơ, vè tôn vinh tờ giấy bạc:

Tiền là Tiên, là Phật.
Là sức bật của tuổi trẻ,
Là sức khỏe của tuổi già,
Là cái đà của danh vọng,
Là cái lọng để che thân,
Là cán cân của công lý.


money-2010-oil-1mx1m-p13-resize.jpg

Thế hệ trẻ sống dưới chế độ cộng sản hôm nay định nghĩa: Tiền biến Người thành Tiền- tranh Phạm Huy Thông

Mỗi năm qua đi, quan niệm, nhận thức, thái độ và ứng xử với đồng tiền của bố mẹ cũng thay đổi rất nhiều. Thấu hiểu hoàn cảnh sống đa dạng, khác biệt, phức tạp hiện nay, hơn một năm qua bố mẹ đã công khai thu nhập, chi phí sinh hoạt của gia đình và gợi ý để con tự đề suất một mức chi tiêu sinh hoạt cá nhân.

Vậy mà con lúng túng, chần chừ, khất lần, loay hoay?

Bố không hề muốn các con thường xuyên cần tiền, luôn tiêu tiền mà chẳng hiểu gì về nó. Bố buộc phải đưa ra một quyết định hơi “độc tài và thiếu dân chủ” một chút: Dành cho con một khoản 300.000 đồng mỗi tháng, tạm gọi là LƯƠNG… cơ sở dành cho học sinh PT THCS.

Khoản tiền này không nhiều nhặn gì. Nó chưa mua cho con mười bữa ăn phở, chẳng nạp cho con được mấy game mới và có thể chỉ giúp con mua được 1,5 con gấu bông để tặng bạn gái nhân ngày sinh nhật… Thế nhưng nó cũng đã gấp 3 lần mức tăng lương tối thiểu cho người lao động mà Quốc hội sẽ quyết trong kỳ họp này.

Rất mong con hiểu rằng bố mẹ không hề ti tiện, ki bo. Bố mẹ tạm chi như thế cũng bởi vì cộng thêm các kiểu học phí và các khoản chi phí lặt vặt cho hai anh em con mỗi tháng đã là một khoản không nhỏ so với nguồn thu của gia đình. Bố mẹ không phải là những quan chức, chủ doanh nghiệp hay nhà buôn.

Doanh nghiệp, nhà buôn thì kiếm được nhiều lời, quan chức thì vơ vét, liếm mút vô cùng nhiều lộc lạc hay thuế máu của nhân dân. Là những người làm ăn chân chỉ, lương thiện mọi khoản thu nhập của bố mẹ có được là dồn góp từ mồ hôi, nước mắt, đôi khi trộn cả máu và nhiều nỗi cơ nhục. Khoản thu nhập khiêm nhường này còn bị thắt bóp, cắt xén đi khá nhiều bởi rất nhiều những khoản thuế. (Thuế má bây giờ thì khốn nạn, tởm lợn gấp nhiều nhiều lần so với những gì mà ông Hồ đọc (mướn) Bản án chế độ thực dân.) Quyền lợi xã hội, dịch vụ công cộng được hưởng ở mức quá đê mạt nhưng thuế thu nhập của mẹ lại cao hơn nhiều lần so với nhân viên đồng hạng ở Nhật Bản. Có nơi nào trên thế gian mà Thuế đánh cả vào trợ cấp cho người mang thai, thuế xe đạp điện? Liệu sắp tới người đi bộ có bị xẻo đi một khoản cho phí… nhấc hai cái chân?

Chu cấp lương cho con, bố mẹ chỉ muốn con có cơ hội vận dụng bài học về bốn phép tính cộng trừ nhân chia, gợi mở cho con một cách suy nghĩ thiết thực, cách làm người tử tế khi nhận về và khi tiêu tiền. Bố mẹ chỉ muốn con tự chủ hơn trong cuộc sống, biết tính toán chi tiêu hợp lý, dần hiểu giá trị đồng tiền và khởi động ý thức kiếm tiền, làm giàu một cách chân chính.

Những điều thực học, giản dị như vậy mà không hiểu sao hệ thống nhà trường hiện nay đều nhiệt tình và cố tình lảng tránh?

Những kiến thức cơ bản này, trong tương lai không xa, may chăng sẽ giúp các con thoát khỏi những hệ lụy của lối tư duy u tối, cách hành xử vô cảm của phần lớn cơ quan công quyền.

Trong nhiều năm tháng qua và trong những buổi học sắp tới, bố đã và sẽ cố xây dựng hoàn chỉnh cho các con một giáo trình về TIỀN- TIÊN- THÁNH.

Bài học cảm động, cần học nhất với các con là từ những người như anh Nguyễn Trung Hiếu học sinh trường Amstecdam, người học trò nghèo từng nhịn ăn sáng, tiết kiệm 3000 đồng lấy tiền giúp mẹ chạy thận. Bài học sâu sắc nhất là từ anh Ngô Văn Thuận ở Xuân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, một sỹ tử đáng nể đã đạp xe ra Hà Nội thi Đại học khi trong túi chỉ có 30.000 đồng.

Đương đại và thời sự hơn thì chúng ta càng phải học kinh nghiệm và khả năng quyên tiền bầu cử của TT Mỹ Obama. Năm 2008, trong số gần 800 triệu USD chi cho vận động tranh cử, phần lớn Obama đã nhận từ quyên góp của cử tri. TT Mỹ đã “nhặt nhạnh” từ những khoản thấp nhất là 8 USD (khoảng gần 200000 đồng). Chỉ trong tháng 9 vừa qua, Obama cũng đã quyên được gần 200 triệu USD.

Từ chỉ ba ví dụ trên, chúng ta đều biết vấn đề không phải là những con số cụ thể 3.000 đồng, 30.000 đồng, 300.000 đồng hay vài trăm triệu Đô.

Đồng tiền sẽ chỉ là Tiên khi nó trong tay những người con hiếu đễ như anh Hiếu. Đồng tiền chỉ là Phật khi đồng hành cùng những chàng trai đầy ý chí, nghị lực như anh Thuận. Đồng tiền chỉ là siêu quyền lực, là cán cân công lý, là biểu tượng của một xã hội lành mạnh khi nó đồng nghĩa, đồng đẳng với tài năng, khát vọng thay đổi nước Mỹ, thay đổi thế giới của những nhân vật được lịch sử lựa chọn như Obama.

Đọc đến đây bố muốn hỏi một câu: các con sẽ làm gì để lương tháng đầu tiên có ý nghĩa nhất?

(Bài cũ viết 04/11/2012-http://songmoi.vn/xa-hoi-gia-dinh/luong-thang-cho-con)

Bão Sơn Tinh và nỗi oan khuất huyền thoại

 

140g9723_resize.jpg

 

Ngày 29-10-2012, cơn bão Sơn Tinh đã hạ cấp xuống còn là áp thấp nhiệt đới và tan đi. Gió đã không còn hung hãn, mưa đã tạnh nhưng những biến cố của thời tiết sẽ không chỉ dừng lại sau gần một tuần tạo tác, hoành hoành dọc Biển Đông. Cơn bão bất thường này không chỉ để lại những hậu quả đau buồn trong cuộc sống nhiều người, thiệt hại về mùa màng hay tàn phá hệ thống cơ sở hạ tầng, đập vỡ những con đê, bẻ gẫy những cột phát sóng…

Hơn thường lệ, lần đầu tiên những bất ổn của không khí, hiện tượng thời tiết đặc biệt nguy hiểm kèm theo gió mạnh và mưa lớn đã vô tình và mau chóng trở thành “bão…từ”. Quá nhiều tiếng la ó, lời ta thán tràn ngập các trang mạng xã hội. Một hiện tượng bình thường và có tính quy luật của tự nhiên bất ngờ tàn phá và để lại một hậu quả khôn lường về đời sống văn hóa, những tổn thương về tinh thần và động chạm rất mạnh đến đời sống tâm linh của người Việt.

Trên thế giới từng có đến hơn một trăm cách đặt tên bão. Người Mỹ từng dùng tên phụ nữ. Hàn Quốc, Nhật Bản đặt tên theo loài thú vật. Malaysia, Campuchia ghi danh theo các loài thực vật . Trung Quốc lấy theo tên các vị thần. Mấy năm gần đây Việt Nam đã đăng ký với WMO mười cái tên để định danh cho những cơn bão là : Sơn Tinh, Ba Vì, Côn Sơn, Hạ Long, Vàm Cỏ, Sông Đà , Sao La, Sơn Ca, Trà Mi và Lekima.

Lấy tên các loài hoa, thú, dòng sông, ngọn núi, bờ vịnh dẫu sao cũng dễ chấp nhận bởi chưng tất cả đều là danh xưng của các tạo vật mà chúa trời, tạo hóa ban cho loài người. Đặt tên bão theo di sản văn hóa thiên nhiên có thể là khởi đầu của một chuyện hài. Hoàn tất một thao tác, thủ tục hành chính, các nhà khoa học khí tượng thủy văn Việt Nam cho thấy họ có cái nhìn và cách sử dụng ngôn từ đầy cảm hứng của những nhà thơ và tư duy của những nhà triết học. Có thể coi cách đặt tên bão trên như là một trong những biểu hiện của sự ”bình thường hóa quan hệ” giữa con người và thiên tai. Hành xử như thế đôi khi cũng đem lại cho nhân loại một cách tư duy khoa học, lối cảm nhận nhân văn hơn.

Nhưng gắn  hiện tượng thời tiết đặc biệt nguy hiểm với những biểu tượng văn hóa, niềm tin tín ngưỡng thì quả thật là quá mức… đặc biệt nguy hiểm. Đó là sự bất cẩn? Đó là trò đùa? Đó là sự vô ý thức? Đó là sản phẩm của một nền văn hóa đầy dị tật? Đó là đòn thù? Đó là điềm báo cho những điều bất an, bất toàn?

3_resize_0.jpg

Có lẽ không đứa trẻ Việt Nam nào không hiểu Sơn Tinh là vị thần đứng đầu trong tứ bất tử. Kể cả người dân ít học nhất cũng hiểu, trân trọng và sùng kính các sự tích, truyền thuyết về Đức thánh Tản (đặc biệt là truyền thuyết Sơn Tinh-Thủy Tinh). Các ông thầy địa lý thì chẳng quên việc Sơn Tinh cưỡi mây nhổ bọt vào trò trấn yểm của phù thủy Tàu Cao Biền. Các nhà văn hóa thì lấy vóc dáng của nơi Sơn Tinh cư ngụ làm phối  cảnh văn hóa cho dân tộc này…. Đó không chỉ là tập hợp rời rạc của câu chữ, không chỉ là lịch sử được huyền tích hóa. Vậy mà đại diện cho giới khoa học Việt Nam có thể ngông nhiên làm những điều u tối, mất Nghĩa, thất Đức đến vậy sao?

Có phải hàng chục năm qua những nhà khoa học này cùng bao thế hệ người Việt từng học và hấp thụ những bài giảng giáo điều. Họ từng bị nhồi sọ rằng Sơn Tinh là anh hùng, Thủy Tinh là giặc? Sơn Tinh là thể hiện cái gọi là khát vọng… làm chủ thiên nhiên? Họ được dạy trở thành những kẻ ngạo ngược như thế? …

Có lẽ các nhà khoa học  này chưa đọc Sự tích một ngày đẹp trời của Hòa Vang. Trong câu chuyện tưởng chừng bênh vực, bào chữa cho Thủy Tinh “trắng án” lại là một là một cách nhìn nhận tự nhiên, lịch sử chuẩn mực, một thái độ đầy tính NGƯỜI trước quá khứ, văn hóa. Trong “sự tích” hiện đại đó, nhân thần Sơn Tinh- Thủy Tinh và Mị Nương là những chất liệu, hiện tượng không thể tách rời. Đó là vai trò hòa giải của con người với những sức mạnh bất thường của thiên nhiên. Đó là sự giao hòa giữa con người và tự nhiên. Đó là gắn kết con người, tình yêu, sự sinh tồn với đất trời, sông núi…

Bão Sơn Tinh đã đi qua nhưng biểu tượng Sơn Tinh sẽ vẫn trường tồn sau tất cả những bấn loạn thảm thương của con người. Người ta có thể không đo đếm được một cách chính xác những phẩm chất của văn hóa Việt nhưng chắc chắn nó dài hơn những con đê. Tín ngưỡng thờ Thần Núi khó biết cao sâu như thế nào nhưng khả năng lan tỏa của nó không giản đơn và phụ thuộc vào sự kích hoạt sóng vật lý. Tình cảm của con người cũng là những mầm sống nhưng không thể dễ rơi rụng như những hạt thóc nhỏ nhoi trên cánh đồng…

000012_a_resize

Một con đê biển lớn bị sóng đánh vỡ có thể xây đắp lại. Một cột phát sóng bị gió non bẻ gãy có thể dựng lại. Vụ mùa này mất trắng còn có vụ chiêm bù đắp…Nhưng điều quan trọng hơn là niềm tin rất khó vực dậy sau những chuyện nhăng nhố. Chỉ cầu xin các nhà khoa học, những người đại diện cho chính phủ, những đặc sứ văn hóa của đất nước này thôi đừng gieo gió, hãy dừng rắc bão trên hiện thực văn hóa, tâm linh của dân tộc. Trong giai đoạn quá nhiều thiên tai, nhân tai này của đất nước, một tên gọi thôi cũng có thể là điểm tựa mong manh, cuối cùng của nhân dân.

Chắc là trong số những người tham gia đặt tên cho bão cũng có kẻ từng bôn ba đây đó. Sao họ học không học tập những nhà khoa học Úc khi lấy tên những chính trị gia họ  căm ghét để đặt tên cho bão. Sao không lấy  “tham nhũng”, “phê và tự phê”, Vinashin hay đồng chí X, Y, Z để đặt tên cho một hiện tượng đặc biệt nguy hiểm này?

29/10/2012- Sống Mới

http://songmoi.vn/xa-hoi-thoi-su/bao-son-tinh-va-noi-oan-khuat-huyen-thoai

Khung cửa ký ức

Nơi cất giữ thời gian và bảo tồn không gian 

Hai Phong Do Son   _resize(1).jpg

Khu 2 Đồ Sơn Hải Phòng 1908

Ngay cả khi loay hoay, lúng túng, hoài nghi, bất lực trước thực tại, con người ta vẫn luôn mộng tưởng và đặt cược niềm tin vào tương lai. Một phương tiện và cũng là cứu cánh của con người là ngược dòng thời gian, trở lại quá khứ, lần tìm cái đã qua, khai quật ký ức, tái tạo lại những điều đã biến đổi, biến dịch. Rất có thể các vỉa tầng, trầm tích của thời gian sẽ mách bảo người ta một chút hy vọng.

Trước mắt chúng ta, trong bài viết này, không phải là Kim tự tháp hoành tráng được kiến trúc theo tọa độ đầy bí ẩn của chòm sao Orion. Không phải là những thức cột chuẩn mực, ẩn giấu khao khát quyền lực thánh thần của con người, của các kiến trúc sư Hy- La. Không phải là những đô thị cực thông minh, được quy hoạch như một tuyệt phẩm của văn minh Lưỡng Hà. Không phải là những đền đài rực rỡ đã lan tỏa theo nhịp biển sữa của thần sáng tạo Shiva và kịp để lại dấu tích điêu khắc trên tháp cổ từ ven sông Hằng đến Bayon,Nam Đảo hay Mỹ Sơn. Vật thể mà chúng ta đang có trong tay không phải là trống đồng Đông Sơn một mật mã kỳ lạ về cấu trúc vũ trụ và tâm thức của người Việt thời tiền sử…

Chúng ta chỉ có một cơ hội nho nhỏ để được trò chuyện, đối thoại với những con tem, tấm bưu thiếp hay vỏ bì thư cũ kỹ. Dấu thời gian khoảng trăm năm mới tạm làm ố vàng hay nhòe mờ chút ít những mảng, nét của không gian xưa cũ.

Bất kỳ lúc nào, những tác phẩm bưu chính này luôn gợi nhắc về một thời khốn khó, chẳng mấy ai còn đủ ý thức lưu giữ các dấu tích, di sản. Thời gian dường như chỉ được chia ở thì hiện tại và chút ảo tưởng về tương lai. Ký ức như một tài sản văn hóa, tinh thần bị quên lãng. Khi mất đi những dấu mốc, nền tảng ấy, ít nhất là nhận thức của người ta sẽ vô hướng, bất định và mất dần khả năng kiểm soát nhiều thứ, trong đó có thái độ hành xử với văn hóa. Hiện tại trở lại với trật tự hỗn mang hơn lúc khởi thủy?

May thay, mỗi bưu thiếp, từng con tem lại mang theo một thân phận và sứ mệnh khác, lớn hơn. Nó vượt qua giới hạn của các mép răng cưa, khổ giấy, mực in, lối vẽ hay các đường biên ý thứ hệ. Hiện thực ba chiều ở một thời xa lắc nào đó tạm hiện về trên khuôn giấy phẳng hai chiều. Đó là hiện vật, chứng cứ, những giá trị được cả tiềm thức và vô thức bảo tồn. Sau khi dịch chuyển tới một phương trời nào khác và chuyển chủ sở hữu, mỗi phong bì thư thật giống viên gạch vồ từng bị nhận chìm dưới thành cũ. Từng con tem cũ giống như con tàu chở gốm cổ đắm ngoài khơi xa. Chiếc bưu thiếp lại giống như trống đồng tạm nằm im bên trong  mộ thuyền… Dù vô tình hay cố ý, sau khi được đánh thức và trở về từ một bến, mốc thời gian nào đó, từng mẩu giấy nhỏ chợt lóe sáng lên và lấp lánh những hồi quang. Nó đa nghĩa hơn một dạng ánh sáng vật lý. Nó giống như những sóng hạt được lan tỏa từ mặt trời. Nó đem đến cho người ta điều lớn hơn sự hồi sinh. Và khi cầm nó trên tay, chúng ta run rẩy bước vào một chiều không gian khác của cảm xúc.

bac-giang-_resize1

Ga Bắc giang 1908

Trên hành trình trở về quê hương đón xuân, khi lần giở mỗi bức ảnh, soi từng nét vẽ, chúng ta không cần phải mường tượng những ga xép ở đồng bằng, trung du hay chặng dừng cuối cùng của tuyến hỏa xa nơi biên cương heo hút. Ga xép Đồng Đăng, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thanh Hóa… có thể không còn nguyên dạng ban đầu nhưng hình ảnh xưa cũ của nó đã nằm sâu trong tâm cảm bao người và theo suốt mọi hành trình sinh tồn. Vượt xa ngôn từ, hình ảnh đã nói quá nhiều điều.

bai-chay-quang-ninh-_resize2

Bãi Cháy 1888

Khi xuống biển, từ trên cao, chúng ta cơ may quan sát lại Hòn Gay như một phần của của thành phố Hạ Long hôm nay. Hình ảnh chụp từ 1881, trên những vỉa tầng than đá, mới chỉ loáng thoáng những kiến trúc, nhà xưởng của Công ty than Bắc Kỳ FSCT. Những bãi đá Đồ Sơn, nơi đùa vui của sóng, nơi từng ngưng đọng những gương mặt buồn vui của ngư phủ nay đã phải nhường chỗ cho một tuyến đường ven biển. Trước biển lớn, so với tiền nhân áo yếm hững hờ, chợt nhận ra con người hôm nay không mấy thư thái. Bãi Trước, Vũng Tàu không còn nhiều những hàng dừa hay khoảng trống cho gió biển tạm dừng nghỉ. Đô thị mới, thay vì phải lùi xa lại phía sau, nay đã hăm hở tràn xuống ven mép nước.

Khi lên rừng, nhìn ảnh chụp biệt thự Zenner ở ChaPa, thấy cao nguyên Lồ Suối Tủng như rộng hơn cùng cái thần khí hoang dã, cô đơn nhưng đầy kiêu hãnh của miền sơn cước. Những ước mơ gây dựng ChaPa giống như Canazei, Cavalese ( Ý), Hallstatt (Áo), Torla (Tây Ban Nha) hay Valle de Aran, Notre Dame de Bellecombe ( Pháp)… vẫn chưa tròn vẹn.  Hoàng Liên Sơn vẫn hóng đợi và mơ về diện mạo đang đổi thay từng ngày của những ngôi làng, vùng đất bên dãy núi Pyrenees, Alps hay Scandinavia…

ha-noi-1_resize

Hà Nội- Bến Nứa

Xuôi theo sông Hồng ta gặp lại những bè tre neo đậu ngay dưới chân cầu Long Biên. Từng nhịp cầu như là tái hiện lại lớp mái lá hay dáng vóc của núi đồi. Tranh, tre, nứa, lá vẫn là vật liệu không thể thiếu trong những kiến trúc bình dân, bình dị. Có phải vì thế mà phố vẫn thật gần với núi rừng, với thiên nhiên. Bên sông Lô, nhìn từ phía sau bệnh viện cũ của người Pháp, phố núi Tuyên Quang có một góc nhìn thật lãng mạn. Dường như những người thiết kế, quy hoạch và cả người chụp ảnh vẫn mang theo tới xứ sở này những ấn tượng về Les Andelys, Vétheuil… bên dòng sông Sein. Họ có mang theo cả những nỗ lực, tìm tòi và sáng tạo mà danh họa Paul Cézanne hay Monet còn lưu lại trong những tuyệt phẩm theo dòng tranh ấn tượng hồi thế kỷ 19. Bên sông Đồng Nai, làng quê vẫn vẹn nguyên thanh bình và đẹp hơn, hiên đại hơn cùng với một nhịp cầu tao nhã. Bên dòng sông Tiền, trên những con đường, ngõ chợ, bến phà dường như vẫn lưu dấu, vẫn ẩn hiện bóng dáng Marguerite Duras. Nữ sĩ Pháp vẫn đang mải đi tìm Người Tình- L’amant.

sai-gon-3_resize

Trước Nhà thờ lớn; 5- Nhà hát lớn, 1907.

Khi vô Nam, đứng từ sông Sài Gòn, nhìn đường Charner (Nguyễn Huệ) lần đầu tiên chúng ta được chiêm ngưỡng một hiện tượng hiếm hoi trong quy hoạch của người Pháp. Không giống như những gì ta vẫn nhận thấy từ Nhà hát lớn Hà Nội ở cuối Tràng Tiền, Nhà hát lớn Sài Gòn ở cuối trục đường Lê Lợi, Bảo tàng Lịch sử ở cuối đường Trần Quang Khải, Trường Đại học Đông Dương ở cuối đường Lý Thường Kiệt… Kết thúc một đại lộ, xoay đổi hướng nhìn, biến đổi chất lượng không gian đô thị không còn là bổn phận, trách nhiệm hay sứ mệnh của những công trình văn hóa lớn. Điểm mút của đại lộ Charner lại chỉ là Ville, một khách sạn. Với một trung tâm kinh tế, một đầu mối giao thông lớn, điểm dừng nghỉ, nơi lưu trú đã thành chốn khởi dựng một tác phẩm kiến trúc, điêu khắc độc đáo, một địa chỉ văn hóa, một biểu tượng.

Quay trở về Hà Nội, khi lang thang quanh đường Trần Bình Trọng, Yết Kiêu lại tiếc cho sự biến mất của Nhà Đấu xảo, Bảo tàng Maurice Long – viện bảo tàng kinh tế đầu tiên và lớn nhất của Đông Dương. Cũng như dinh Norodom của kiến trúc sư Hermite trên đại lộ Norodom  (đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), chiến tranh, bom đạn và nhiều điều lầm lỡ, ngớ ngẩn của con người đã xóa đi những vết dấu, những di tích rất đáng kể.

….
sa-pa_resize

Cha Pả-Sa Pa 1903

Sau khi lướt qua một bộ sưu tập tem, thư, bưu thiếp, chúng ta cũng chẳng nên dừng lại quá lâu với những ký ức buồn hay trĩu nặng một tâm trạng hoang mang, hoài nghi. Trong một khoảng thời gian đủ dài và lại có quá nhiều biến động dữ dội, sự mất mát, đổi thay dù theo chiều hướng xấu đi cũng là điều khó tránh khỏi.

Hiện thực hôm nay của đời sống, kiến trúc có thể còn rất nhiều khó khăn nhưng nhu cầu sống văn minh hơn, thông thái hơn đang được quá khứ gợi nhắc, hối thúc? Chúng ta có quyền mơ về một phối cảnh đô thị từng có, từng hiển hiện? Chúng ta sẽ dần quên đi câu nói buồn “ bao giờ cho đến ngày xưa”?
Trong những ngày xuân, hãy cứ mường tượng cảnh những bạn kiến trúc sư trẻ đang lần giở từng trang báo và cùng hòa nhịp với hoài niệm. Một thế hệ kiến tạo mới, chính họ sẽ lần mở quá khứ và tìm kiếm cho bản thân sự hứng khởi và cả niềm hy vọng. Trong từng dự án, trên từng bản vẽ, chính họ sẽ vượt qua cái duy mỹ trong kiến trúc của người Pháp, cái thực dụng của người Mỹ, cái thô nặng của người Nga hay cái màu mè phô trương của người Tàu.

Họ sẽ viết lại những chuẩn định mới cho Sapa. Sẽ lựa chọn Hạ Long đen hay xanh. Sẽ trả lại cho Đồ Sơn cái chân chất, mộc mộc mà vẫn căng đầy nhựa sống. Sẽ xây dựng mới bảo tàng kinh tế lớn nhất khu vực. Sẽ thanh lọc rồi tái hiện những cảm xúc của thiên nhiên cho sông Đồng Nai. Sẽ chung tay tái tạo không gian cơ quan công quyền thực sự năng động, sáng tạo, mới mẻ, hấp dẫn như những tác phẩm nghệ thuật…

Họ sẽ là thế hệ thay đổi diện mạo kiến trúc đất nước này. Họ sẽ trao cho mai hậu, cho tương lai những bức thư, những con tem, những bưu ảnh mang thông điệp ấy!

ha-noi-12_resize

Nhà Đấu xảo, Bảo tàng Maurice Long – viện bảo tàng kinh tế đầu tiên và lớn nhất của Đông Dương ( Cung Văn hóa Việt- Xô)

 

bac-ninh_resizeBắ Ninh 1912

bien-hoa-_resizeBiên Hòa 1913

dong-dang-lang-son-1_resize
Đồng Đăng, Lạng Sơn 1894

Năm 1901, Hà Nội đã xây lắp 29 km đường ray tàu điện

 

Ha Noi  (8)_resize.jpgTrường Đồng Khánh 1917 ( Trường Trưng Vương)

Ha Noi  (9)_resize.jpgĐại lộ đại lộ Puginier (Đường Điện Biên Phủ)

hai-duong-_resizeHải Dương 1902

Mỹ Tho 1906

nam-dinh-1_resizeCảng sông Nam Định 1911.

 

Sai Gon (1)_resize.jpgSài Gòn1- Năm 1907, Đại lộ Charner ( Nguyễn Huệ)

Sai Gon (2)_resize.jpg Năm 1912, Dinh Thống Đốc trên đường Lagrandière, trước 1975 là đường Gia Long. Nay là Bảo tàng đường Lý Tự Trọng; 3- 1906

thai-nguyen_resizeDoanh trại lính bên sông Cầu, Thái Nguyên

Thanh Hoa _resize.JPGGa Thanh Hóa

Tuyen Quang _resize.jpgNhìn từ Bệnh viện Tuyên Quang 1908

Vung Tau_resize.jpgBãi Trước, Vũng Tàu 1912