Cẩu giản và…

 

 

Cẩu nên chưa giản?

1 (1)

                       1 (3)     1 (2)

 

Mạo danh Minimalism? (6- 2019)

 

Gần đây, trên báo có nhiều bài viết tán thưởng, ngợi ca những căn hộ, kiến trúc, thiết kế nội thất theo phong cách tối giản ở Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Sài Gòn…
Ngoài ngôn từ, theo những bức ảnh đi kèm, minh họa, thật khó nhận thấy từ các công trình này tinh thần tiết chế, ý thức buông bỏ, thái độ xa dời những tham muốn vật chất và các nỗ lực hướng đến một cuộc sống có ý nghĩa hơn. Chỉ thấy từ những căn hộ… cao cấp một không gian trống rỗng, nghèo nàn, buồn tẻ. Vách kính dựng lên vô cớ. Không gian học của con nhỏ hơn mức cần thiết, sách vở, đồ dùng để tùy tiện dưới sàn. Bữa cơm của gia đình tuềnh toàng, mâm để xuống sàn, mọi người ngồi bệt trong một tư thế vẹo vọ chẳng khác những người nông dân thời bao cấp nghèo khó …

Tuy nhiên, ý thích, cách sống của mỗi người, lựa chọn của một gia đình là chuyện riêng tư, không nên lạm bàn. Chỉ tiếc, người viết, các tòa soạn và kiến trúc sư thiết kế đã hiểu, diễn đạt sai lạc những nguyên tắc, quan niệm Minimalism của phương Tây hay tinh thần tối giản tuyệt hay của phương Đông?

Về cách sống này, người xưa bình và phẩm là: “cẩu giản”. Trong những ngữ cảnh cụ thể,  “Cẩu” không chỉ là ẩu, cẩu thả, bừa, tuỳ tiện, tạm, tạm bợ, làm lấy được, không có ý lo tới chỗ lâu dài, tầm nhìn xa rộng, nhân văn. “Giản” không chỉ là qua loa, sơ sài, thờ ơ, bất cẩn, không thấu đáo.
Albert Einstein từng nói: “Make things as simple as possible but no simpler.” – “Không thể hoàn tất những điều đơn giản bằng sự giản đơn”


Minimalism ?

 

                      2 (2)                              2 (1)a

2 (1)

Vườn sỏi, trà thất, chùa tháp Kyoto, Nhật Bản (1995)

Ở một khu sân golf sang trọng cách HN không xa, dọc con đường đắt giá bậc nhất bên bờ vịnh Hạ Long… thấy không ít những căn hộ được copy, sao chép, mô phỏng biệt thự Savoye của Le Corbusier, Nhà kính ở New Canaan của Philip Johnson, Biệt thự Tugendhat của Ludwig Mies van der Rohe

Ngay trong những cuộc đất đắt tiền, sang trọng, có cảnh quan núi đồi, thảm cỏ, mặt nước, biển đảo, di sản thiên nhiên thế giới, đẹp như mơ, lại thấy những khối hộp vuông chằn chặn. Không khí ô nhiễm, an ninh không tốt nên tường, cửa vây kính. View nhìn mở rộng nhưng lại đóng gói kiến trúc thành hộp kín, thiếu khí tươi và chi phí làm mát thì … không cần tính đếm.  Công trình giấu đi được những hàng cột kết cấu thô cứng thì lại phơi lộ ra những rèm tre chống nắng vụng về và chẳng có được cái tiện ích giản dị, cái thú vui thuần nhã của nhà tre ở quê…

Ở miền nhiệt đới nóng ẩm, chẳng phải vô tình, những tinh hoa Minimalism từng tạo nên diện mạo mới cho kiến trúc hiện đại nhân loại  đã lộ nguyên hình những… “máy ở”. Kiến trúc miền ôn đới từng tương phản, đối lập, phản kháng với những cầu kỳ, xa hoa, kỳ vỹ của các hàng cột Hy- La, vòm cong Gothic, mái vòm Phục Hưng… cơn cớ gì lại trôi giạt về gần xích đạo rồi nghênh ngang,  học đòi, khoe mẽ vô lối …?

Tối giản …!

3 (3)

3 (1)

 Khu tưởng niệm trịnh Công Sơn ở Bình Quới, Sài Gòn (2000)

 

Nếu tạm hiểu là giản lược, giản dị đến hơn nhất, tối ưu, tinh hoa, có thể chữ “Tối giản” không to tát, kinh viện, trừu tượng nhưng nó đa tầng, đa nghĩa, tinh tế và phổ quát hơn Minimalism?

Nhiều năm qua, trong khi văn minh phương Tây đang có xu hướng thắng thế, thời thượng, có thể “Tối giản” đã ngược đường và được chuyển ngữ từ Minimalism. Báo chí, nhiều nhà nghiên cứu và cả giới nghề trên thế giới lại có xu hướng cho rằng Minimalism hình thành, phát triển từ giữa thế kỷ trước ở Âu- Mỹ.

Nhưng, nếu đặt Minimalism trong một tiến trình tiến hóa của kiến trúc và văn minh nhân loại, e rằng niên đại trên chưa chính xác, định nghĩa này tự khu biệt, hạn hẹp và có phần vội vàng, lệch lạc?  Có lẽ các nhà phân tích, lý luận hay truyền thông cần một sự điềm tĩnh, thấu đáo hơn chăng?

4 (3)

 

4 (2)              4 (6)                   4 (5)

4 (1)

Six Senses Ninh Van Bay, Nha Trang (2014)- Tối giản là một hành trình khiêm nhã để kiến trúc và con người trở về, hướng tới gần nhất với thiên nhiên, chạm vào tự nhiên. Từ sau 2005, thật khó tìm thêm một kiến trúc nào vừa hiện đại vừa đậm đà bản sắc hơn thế?

 

Hãy thử ngược dòng lịch sử văn hóa- kiến trúc Nhật Bản. Thử tới những trà thất, những  “Ngôi nhà Không” ở Hoàng cung, để hiểu về một kết cấu, một cấu trúc: Hòa, Kính, Thanh, Tịch. Tới Kyoto để ngắm vườn sỏi, vườn khô. Đến Nara để lưu nhớ về kiếm đạo…

 

Giản đơn, gần gũi hơn, hãy trở về với khu nghỉ đẳng cấp Six Senses Ninh Van Bay, chậm bước quanh khu đền thờ Trịnh Công Sơn ở Bình Quới, Sài Gòn… Có thể hai không gian hiếm hoi này sẽ cho phép người ta chạm nhẹ, nhìn sâu hơn vào một khái niệm Tối Giản Việt. Có thể người ta sẽ dần nhận thấy rõ hơn xuất sứ, dấu mốc, thành tựu, sự lan tỏa những quan niệm rất khác giữa Tối giản và Minimalism.

Thử ngẫm về những đường kẻ thẳng cùng kiệt giản đơn, các mặt phẳng cùng khối màu nguyên và hệ lưới trừu tượng từng ảnh hưởng sâu sắc, toàn diện tới kiến trúc và rất nhiều lĩnh vực khoa học sáng tạo của Mondrian. Họa sỹ lừng danh có chép lại, cóp lại, mô phỏng lại các cấu trúc khung gỗ, trật tự và logic của thảm Tatami trong những ngôi nhà, từ kiến trúc shinden-zukuri dựng trên đất hẹp và nhiều động đất ở nhật Bản cách nay gần 13 thế kỷ?

 

Vào thế kỷ 15, trong khi Filippo Brunelleschi còn đang mải mê với mái vòm bằng gạch khổng lồ bao phủ không gian trung tâm của Nhà thờ Florence để trở thành KTS đầu tiên phát triển kiến ​​trúc Phục Hưng thì những người thợ xây nhà quê ở Nhật Bản đã hoàn tất phong cách Shoin với những tác phẩm tối giản trác tuyệt.

Le Corbusier từng nói: “Khoảng trống, ánh sáng và sự ngăn nắp cần thiết chẳng kém gì cái ăn và một mái nhà với một con người”. Frank Lloyd Wright từng nói: “Hình thức và công năng là một”. Nếu so sánh với triết lý tinh tế, gần như vô ngôn của kiến trúc Trà thất Jo-an, e rằng, các ý tưởng của hai KTS lừng danh, từng được giới nghề trích dẫn rất nhiều này đã muộn hơn 6 thế kỷ và có phần nôm na, vụng về?

Chắc chắn câu nói nổi tiếng Less is more được cho là của Ludwig Mies van der Rohe xuất hiện muộn hơn bốn thế kỷ so với Haiku – những câu thơ không thể ngắn, xúc tích hơn?

Hẳn là Minimalism sẽ còn phải suy ngẫm nhiều về “nhất chiêu tất sát” của kiếm đạo- kendo Nhật Bản.

Có nhìn lại như thế mới tạm thấy Minimalism là một hành trình mà kiến trúc phương Tây nhọc nhằn kế thừa rồi thoát bỏ, đoạn tuyệt với di sản quá lớn của kiến trúc cổ điển. Nó vật vã tìm kiếm một vài nhóm giải pháp nhiều phần kỹ thuật, cố gắng đổi thay, làm cách mạng về không gian, nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất không có điểm dừng của con người, đáp ứng tiện ích, công năng của không gian đô thị đang ngày càng bị nén ép, dần hẫng hụt các giá trị nhân văn.

“Tối Giản” thì khác rất nhiều, đôi chỗ còn ngược đường với  Minimalism. Ngay ban đầu, từ rất sớm, trong những công trình nhỏ bé nhất đến những biểu tượng lớn, “Tối giản” đã mạnh mẽ chối bỏ cái khệnh khạng, lòe loẹt, rườm rà của quyền lực thế tục trong kiến trúc phong kiến Trung Hoa. Nó lặng kẽ tiếp nhận tinh thần vi diệu của Vô Vi trong Đạo Lão. Nó nghiêm cẩn chắt lọc cả những cái buông bỏ, buông xả của Phật giáo. “Tối giản” nắm bắt công cụ Kinh Dịch huyền nhiệm để biểu đạt những giá trị lớn, đa tầng, vi tế hơn mọi vỏ xác kiến trúc.

Tối hậu, lược bỏ công năng, chắt lọc tiện ích, buông xả nhu cầu sở hữu nhiều hơn các giá trị vật chất, để con ngườigiao hòa với đại đạo, kiến trúc hài hòa cùng trời đất, “Tối Giản” tiếp tục tiết chế rồi đồng hành với chỉ một chữ, một con âm, một đại tượng: Zen (Thiền).

 

4

Nhà của lãng tử Quý Đức ( Tam Đảo 7-2008)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Advertisements

Xôn xao … cõi Nước?

1 (1)Cò quăm và thiên nga ở Oela

 

Hồ nước như là một vật liệu, định vị, định hướng, kiến tạo hình thái của đô thị, nơi nuôi sống con người, nơi sắp đặt không gian thử nghiệm các giác quan, địa điểm của ký ức, nơi tiếp nhận, cất giấu vẻ đẹp của quá khứ, những thăng trầm của lịch sử, cái nôi văn hóa, tác nhân đánh dấu nền văn minh…?

Bài và ảnh: Hải Sơn- Đăng Lâm-Xuân Bình

 

Trung tuần tháng 6, tiễn con trai lớn đi du học ở thành phố Winter Park, Orlando, Florida, Mỹ, tôi ra đề: Bài tháng 7 này, ba bố con sẽ viết chung, đề tài do các con tự chọn!

Hơn một tuần sau, trong một ngày mà khối bê tông Hà Nội bị nung đỏ, tôi nhận từ các con rất nhiều hình ảnh về những mặt nước, mép hồ, bờ kè, vỉa hè, ghế đá, hàng cây, đàn chim, con đường, công viên, góc phố nổi tiếng nhất của Hà Nội và Winter Park. Những góc nhìn đầy tương phản, ghi chép khác ngược gói ghém bởi thật nhiều cảm xúc vui buồn, hoài nghi, hy vọng, đổ vỡ, thăng hoa …

default

Đường trên cao cắt nát đảo Linh Đàm, mặt hồ, một quỹ đất đẹp, hiếm hoi của HN

Hà Nội, còn đó niềm tin yêu và hy vọng?

Mấy ngày ròng rã, mặc trời nắng như thiêu đốt, cậu học trò đang tuổi yêu vẫn lọ mọ sục tìm từng góc nhỏ nhất ở hồ Linh Đàm, hồ Gươm, hồ Tây…

Trong mắt con trai, hồ Tây bây giờ không còn “Đàn sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời”. Phần lớn con đường có thể trở thành đẹp nhất đất nước này lại không có nổi vỉa hè. Không có điểm dừng lại để thưởng ngoạn một báu vật mà thiên nhiên ban tặng. Đường cho xe ô tô, xe đạp hay người đi bộ bị gom lại, chồng lên nhau, co rúm, bất toàn. Những hàng lan can kiểu trại giam được làm bằng những tuýp thép to, thô kệch.

 

Hồ Gươm không có chỗ cho mọi người có thể chạm nhẹ vào mặt nước. Chẳng còn chỗ cho những câu thơ “ Cao đê vận tống hoành giang điểu”- tạm dịch “tiếng chim lao xao loang trên mặt nước” mà tiền nhân đã treo ở nhà tiền tế đền Ngọc Sơn.

Linh Đàm, quận Hoàng Mai từng gần được là một khu đô thị kiểu mẫu. Trong quá khứ. Về điều kiện tự nhiên, Linh Đàm có nhiều nét tương đồng với Winter Park. Đây cũng là vùng đất trũng, có nhiều sông nhỏ, ao, hồ, đầm và hệ động, thực vật thủy sinh đa dạng. Cậu học trò rất thích hội họa siêu thực của Salvador Dali, Rene Magritte… phải chờ đợi rất lâu mới chộp được một cánh dơi lẻ loi vào ảnh của mình. Cậu học trò lặng đi khi chụp một con ngựa nhựa cũ nát đang ngả đầu đầy cảm thương, ân cần, trìu mến với cô bạn cá nhựa cùng bị con người vứt bỏ ở một góc … công viên tàn tạ. Và bạn ấy ngậm ngùi hơn khi ghi lại hình ảnh những con thiên nga nhựa lềnh phềnh, ngơ ngác, lạc lõng trên cái bóng ngả ngốn của những tòa nhà, bức tường bê tông Mường Thanh…

1 (5)

Công viên Linh Đàm

    2 (8)                                 2 (6)

hồ… Tây?

Sau khi xem những bức ảnh được chụp cách Hà Nội nửa vòng trái đất, cậu học trò viết trên Fb:

“Thật buồn, Winter Park và Linh Đàm lại có những khoảng cách quá lớn về văn hóa, về cách con người ứng xử với tự nhiên, với nơi mình đang sống. Điều gì tạo nên sự khác biệt quá lớn đó?

Cho dù đô thị Linh Đàm đang ngày càng xuống cấp, chỗ nào cũng có thể nhìn thấy những điều phản cảm, nghịch lý và cả những bức xúc. Tuy nhiên, tôi vẫn muốn đến với Linh Đàm từ một góc nhìn khác, góc nhìn của cái đẹp có phần huyền ảo giống như người xưa từng viết và kiến tạo về một vùng đất thờ long thần, thủy thần linh thiêng”

 

Winter Park- công viên 5 mùa

1 (2)

 Diệc ở hồ Oela

Đến thành phố của hồ, có gì vui hơn khi nằm dài trên cỏ, dõi theo một cánh chim trời, lắng nghe tiếng gió hoang, chạm vào nước, hít thở không khí trong lành và nếm thử một trải nghiệm rất khác của mùa thứ năm.

Lần đầu tiên tới Winter Park, quận Cam, Mỹ, chàng sinh viên Việt Nam rất giỏi nấu ăn đã không giấu được cảm giác thảng thốt, ngỡ ngàng khi lần đầu tiên biết thế nào là… CAM, thứ quả hữu cơ ( organic) rực vàng màu nắng, múi, tép mềm hơn, vị ngọt chưa từng thưởng cảm và giá thì rẻ hơn ở VN… 6 lần!

Chính ngọ, nắng gắt, chàng trai tuổi đang lớn, luôn phải nhịn thở rất lâu mỗi khi qua hồ Thanh Nhàn, sông Kim Ngưu, Tô Lịch đã tự cho phép mình lang thang quanh hồ Ocseola, Oela, Virgirna, Mizell, Baldwin…  cũng chỉ để hiểu thế nào là hít thở căng lồng ngực.

Như một thi sỹ, chàng tự hỏi: Sao mùi cỏ nồng trong nắng gắt lại thơm ngọt thế? Sao nước hồ trong vắt? Sao có nhiều cây cổ thụ ven hồ? Sao chẳng thấy xe tưới mà cây rất xanh màu khác lạ? Dưới mép nước có những thảm thực vật như cói, sậy, lau, tùng mà vắng tảo độc, rong gai, bèo tây? Bao nhiêu năm lang thang cùng gia đình khắp mọi nơi chốn VN, sao lần đầu mình mới thấy diệc, cò quăm lang thang cùng thiên nga? Mình có thể ngâm chân dưới hồ sau những cuốc đi bộ dài hơn chục cây?

Chàng sinh viên Hà Nội ham chơi có thể biết cách nay 138 năm, trong khi trốn chạy sự đe dọa của thời tiết mùa đông khắc nghiệt ở miền bắc, Loring Chase, một bệnh nhân viêm phổi mãn tính đã lần tìm về vùng đất cận nhiệt đới để vượt qua bệnh tật hiểm nghèo và lần đầu tiên tạo dựng nên tên gọi, danh tiếng Winter Park.

Đứng trước khách sạn cổ nhất Winter Park, một gã trai nuôi ước vọng đi vòng quanh thế giới chắc đã biết nơi đây vào ngày 1 tháng 1 năm 1883, Chester A. Arthur-  Tổng thống Hoa Kỳ từng hết lời ngợi ca miền đất, thành phố đẹp nhất Trung Mỹ.

Một đầu bếp đầy triển vọng, đặc biệt nhạy cảm về mùi và vị của đồ ăn có thể biết vào năm 1910, vợ chồng John và Mary Hakes đã nhọc nhằn và đầy hứng khởi khi vun trồng cam Florida trở thành một loài cây, một thương hiệu tạo nên lịch sử.

3 (2)               2 (3)

  2 (2)                               2 (4)

Hệ thống cống, xử lý nước mưa ở hồ Ocseola- Hồ Oela- Hồ Baldwin

 

Nhưng có nhiều điều nhỏ bé, ẩn khuất, không dễ nhìn thấy mà cư dân mới của Winter Park rất nên biết. Sau hơn 100 năm, thật đáng nể, bản quy hoạch tổng thể, định hướng phát triển lớn của thành phố gần như không đổi, hay điều chỉnh.

Để có nước hồ trong xanh, sạch, cỏ thơm và công viên, cảnh quan quyến rũ hẳn là một nỗ lực không mệt mỏi của thành phố suốt một thế kỷ qua.
Cuối đường Alexander, phía trước những kiến trúc theo phong cách Địa Trung Hải vùng Tây Ban Nha đẹp sửng sốt, không chỉ là một bùng binh hay là chỗ quay đầu xe trang trọng dành riêng cho một khu đất quá đắt giá. Dưới đất sâu là một bể ngầm, cửa cống lớn, Baffle Boxes, bể xục khí, đập tràn… để chặn lá, rác, bùn, chất thải. Kế đó không xa là trung tâm bơm phèn vào nước mưa để lắng lọc bùn, phân hủy rác. Nước chỉ được chảy vào hồ với độ trong được kiểm soát ngặt nghèo.

Winter Park nằm trên trên đường của các đàn chim di cư từ Đại Tây Dương và Mississippi đến khu vực trú đông Caribbean và Nam Mỹ.  Trên hồ Oela, dễ gặp hình ảnh thật lãng mạn khi nhiều du khách cho thiên nga, diệc, cò quăm ăn. Hãy lưu ý một chút, chính quyền thành phố có cả những khuyến cáo rất rõ ràng rằng: Hãy để chim thú tự kiếm ăn, sinh tồn và cùng con người tham gia thiết lập một hệ sinh thái thân thiện, có kiểm soát. Thức ăn cho chim thú có thể gây ô nhiễm nước hồ.

Trên hồ Ocseola, để có gương nước trong vắt, mở rộng, xa ngút tầm mắt, từ những năm 1960, thành phố từng có những nỗ lực không mệt mỏi để loại bỏ tảo độc, rong gai, bèo tây, chống nguy cơ thực vật thủy sinh ngoại lai phát triển hoang dại, mất kiểm soát sinh khối, biến hồ trở lại thành đầm lầy.

Hồ Baldwin, cao dần từ mặt nước, thảm cỏ thủy sinh, bờ mép, đường đi bộ, cây xanh tiểu cảnh, sân, quảng trường và tòa nhà trung tâm… những phối cảnh đủ sức níu kéo con người ngồi lại, dừng lại để nghi ngơi, thư giãn, vui chơi và suy ngẫm. Con trai đừng quên, năm 1988, mưa lớn, nước lũ không kịp thoát ra lưu vực sông St. Johns, SôngEcllockhatchee, mực nước hồ đã dâng cao hơn 3m. Chiều cao mỗi mặt sân, con đường, hàng cây chính là sự nhắc bảo về những giới hạn an toàn khi bất trắc…

  Lâm thủy

4

 Ánh sáng, chiếu sáng như cách này cũng có thể làm ô nhiễm thị giác. Có còn “một lối dẫn tới tiên cảnh”?

 

Cách nay gần 20 năm, Christian Pe’delahore de Loddis- một KTS người Pháp có bài chuyên khảo sâu sắc “Hà Nội và hình tượng của nước”.
Thật bất ngờ khi KTS đề dẫn những vần thơ ngắn trong tập Lá Cỏ- một trong những sự kiện văn học quan trọng nhất, một cuộc cách mạng trong thi ca đương đại, với sự ra đời của một thể thơ mới – thơ tự do mà Walt Whitman là người khởi xướng:

“Vốn đã hiểu từng tấc đất mỏm đá
Những bông hoa mùa hè
Những vì sao, cơn mưa mùa hè cho tôi niềm cảm phục

Vốn đã lắng nghe trong ánh hoàng hôn tuyệt diệu
Tiếng chim hót trên cành thông tuyết chốn đầm lầy”

Ngầm mách bảo, cảnh báo về việc Hà Nội tàn hủy miền đất “Venice phương Đông”( cảm nhận của một người Ý hồi thế kỷ 14), có phải KTS ý tứ, tế nhị, mượn lời thơ của một người Mỹ, để luận giải về vị thế, tâm thế con người trước những mặt nước, ao hồ, thiên nhiên?

Nhận thức, cảm xúc, hành xử của họ mới chính là chất liệu để xâu chuỗi nước, hồ với tư cách là một vật liệu, định vị, định hướng, kiến tạo hình thái của đô thị, nơi nuôi sống con người, nơi sắp đặt không gian thử nghiệm các giác quan, địa điểm của ký ức, nơi tiếp nhận, cất giấu vẻ đẹp của quá khứ, những thăng trầm của lịch sử, cái nôi văn hóa, tác nhân đánh dấu nền văn minh…?

Đọc lại Walt Whitman , chỉ muốn ngừng viết, ngửa mặt lên trời mà ngâm ngợi và… cầu nguyện:
“Lâm thủy, đăng sơn, nhất lộ tiệm nhập giai cảnh
Tầm nguyên phỏng cổ thử trung vô hạn phong quang”

Tạm dịch:
“Ngắm nước, lên non, một lối dần tới tiên cảnh
Tìm về bản nguyên, cõi ấy sáng tỏ đến vô cùng”

Cùng thời và không xa cái ngày mà Thần Siêu ( Nguyễn Siêu) hay cao nhân nào đó viết mấy câu đối ở Tháp môn, cổng chính đền Ngọc Sơn, David Mizell Jr, người Mỹ đầu tiên đến cắm đất, dựng nhà, xây trang trại trên đầm lầy. Ban đầu họ định danh miền đất mới là Lakeview. Đó cũng là một diễn dịch khác, giản dị, chất phác hơn của “Lâm thủy”.

Để các con có nhiều lựa chọn, niềm tin, hy vọng mỗi khi tới gần, chiêm ngắm, hòa cùng suối sâu, sông dài, hồ rộng, biển lớn rồi “tiệm nhập giai cảnh”, lại xin được mượn lời thơ “Hát cho chính mình” của Walt Whitman. Xin gửi đến cho mọi người và cũng là tự… ru mình vậy!

 

I loafe and invite my soul,

I lean and loafe at my ease observing a spear of summer grass.

My tongue, every atom of my blood, form’d from this soil, this air,

Houses and rooms are full of perfumes—the shelves
are crowded with perfumes,

I breathe the fragrance myself, and know it and like it,

The distillation would intoxicate me also, but I shall
not let it.

The atmosphere is not a perfume, it has no taste of the distillation, it is odorless, It is for my mouth forever, I am in love with it,

 

Tôi thong thả bước đi và ngỏ lời mời gọi linh hồn

Khi chênh vênh nghiêng, tôi bình thản nhận ra những ngọn cỏ mùa hè sắc nhọn.

Tiếng nói, mọi điều sâu kín ẩn trong máu huyết tôi, hình thành từ đất này, từ bầu không khí này

Ngôi nhà tràn đầy hương hoa

Tôi hít thở hương thơm và biết mình yêu thích nó

Khi chưng cất hương thơm trời đất, tôi mê say nhưng sẽ không để nó chế ngự

Bầu không khí không có hương vị, mãi gắn bó theo từng nhịp thở và tôi yêu….

3 (1)

Kiến trúc phong cách Địa Trung Hải vùng Tây Ban Nha ở hồ Ocseola

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hòa Lạc và Đô thị đại học?

Tầm nhìn của quy hoạch, ngôn ngữ, phong cách, tầm vóc của kiến trúc là những tín dấu đầu tiên cho một hệ sinh thái đại học sáng tạo?

default

Gần đây, trong một nỗ lực mới nhằm sắp xếp lại hệ thống trường đại học (công và tư), nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho cách mạng công nghiệp 4.0, những vấn đề về quy hoạch Đô thị Hòa Lạc lại được nhắc đến, lựa chọn như một từ khóa?

Gần 20 năm qua, Khu đô thị Hòa Lạc được định hướng phát triển thảnh khu đô thị sinh thái, thành phố khoa học, khu đô thị đại học hiện đại, tiên tiến bậc nhất Đông Nam Á với công nghệ cao, phát triển tri thức, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Ưu tiên hàng đầu của Đô thị Hòa Lạc là các lĩnh vực công nghệ thông tin, truyền thông, công nghệ phần mềm, công nghệ sinh học phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản, y tế, công nghệ nano, công nghệ năng lượng, điện tử, cơ khí chính xác, điện tử và tự động hóa.

Trong khi dự án Đại học Quốc gia vẫn loay hoay chưa triển khai được bao nhiêu, khi được tự chủ, khi nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng cấp thiết, để đón trước những cơ hội rất lớn trong thị trường giáo dục đào tạo, các doanh nghiệp như FPT, Viettel, TH school… đã nhanh chóng xây dựng trường, đại học, học viện, tổ hợp nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất…

Tuy còn rất lâu mới theo kịp được tinh thần Đại học Đông Dương của KTS lừng danh Ernest Hebrard, một biểu tượng về thiết kế kiến trúc trường học thế giới; dù chưa thực sự đối thoại được với những phức tạp của thổ nhưỡng, khí hậu; chưa thoát bỏ được việc tìm kiếm cái lạ về hình thức để săn lùng giải thưởng cùng với những thông điệp truyền thông quá to tát nhưng bước đầu những công trình này đã góp phần tạo nên một diện mạo rất mới, có phần đáng khích lệ cho kiến trúc giảng đường.

Những đặt hàng không nhỏ?

 

defaultFPT

Trong khi thực hiện đề án sắp xếp lại hệ thống các trường đại học, bản thân những người có trách nhiệm cao nhất với giáo dục cũng đã đặt vấn đề tổ chức thực hiện quy hoạch lại không gian Hòa Lạc để tạo xung lực phát triển mới.

Vẫn còn đó những băn khoăn về “chất lượng ĐH chưa đồng đều, hệ thống rời rạc, kém cạnh tranh, mô hình trường đại học bên trong đại học của các đại học còn nhiều bất cập, nguồn cung, từ cơ sở vật chất, đội ngũ, chương trình đều… yếu và thiếu”

Trong rất nhiều cuộc gặp gỡ, làm việc, tọa đàm, hội thảo lớn, khái niệm Đô thị Đại học, Làng Đại học, các industrial clusters (cụm liên kết ngành), ĐH Thông minh đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục, các doanh nghiệp lớn tiếp tục đặt lên bàn nghị sự kèm theo một chuỗi những giải pháp đầy trách nhiệm.

Đề bài cho quy hoạch, thiết kế kiến trúc sáng rõ hơn với câu hỏi, nghi vấn như: Cái gì tạo ra đô thị đại học? Theo điều tiết cung cầu của thị trường, đến năm 2025-2030 nhu cầu học tập của người dân thế nào? 5-10 năm tới xu hướng giáo dục các nước ASEAN ra sao? Bên cạnh ngành nghề truyền thống, sẽ có những ngành học mới nào xuất hiện? Nếu mở thêm trường sẽ có người học theo học?

Sẽ có xu hướng các trường đại học kết hợp, liên minh với nhau, hình thành các nhóm, tổ hợp để tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có? Cần luận cứ để sắp xếp, hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể các trường ĐH công lập yếu kém, thu hút, mở rộng ra các trường tư? Mô hình trường, cụm đại học tự chủ, khi tập trung quy mô sẽ khai thác hiệu quả hợp tác win – win, đồng hành cùng phát triển vì lợi ích của các bên?

Xuất phát từ thực lực, chất lượng, nhu cầu của người học, để nâng cao tính cạnh tranh, nghiên cứu đề xuất phương án, khuyến khích các trường liên kết với nhau để lớn mạnh, nhỏ và đơn ngành thì khuyến khích trở thành cụm đại học đa ngành?

Kinh nghiệm quy hoạch thiết kế tổng thể phát triển đô thị đại học California những năm 1960 cũng được nhắc lại như một kinh điển.

 

Oxbridge và Hệ sinh thái đại học?

3 (1)a

Cambridge

Từ Việt Nam, Đông Nam Á, châu Á đến Oxbridge (Oxford và Cambridge), đến nước Anh, quê hương của Cách mạng công nghiệp lần thứ 2 là một hành trình gần 1000 năm phát triển, hoàn thiện một Hệ sinh thái đại học sáng tạo. Thật may mắn, Đô thị ĐH Hòa Lạc hôm nay có thể tìm được từ đó quá nhiều bài học kinh nghiệm đắt giá.

Hướng về Tây, Oxford là trung tâm của Vành đai xanh. Tp có quy hoạch môi trường, không gian nông thôn ở xung quanh thành phố nhằm ngăn chặn sự phát triển đô thị và giảm thiểu sự hội tụ với các khu định cư gần đó.

Chiều cao, điểm nhấn của kiến trúc, đột khởi của “Những ngọn tháp ước mơ”  không hẳn là kích cỡ vật lý của các tháp chuông nhà thờ. Khi nhà thờ muốn đức tin làm con tin, nhà vua và chính quyền buộc thần quyền phải trả quyền tự chủ, tự quyết để nhà trường trở thành một thực thể độc lập.

Sau những biến động khiến Oxford phân mảnh, bi kịch tạm thời của lịch sử đã giúp hình thành mới một Cambridge lừng danh không kém.

4 (1)a

Hong Kong Polytechnic University

Nhìn về Đông, với tổng diện tích 1.586 ha, trong đó có 1000ha cho dự án ĐHQG, không một trường đại học nào của Đô thị Đại học Hòa Lạc phải bị ép, nén như The Hong Kong Polytechnic University, một trường ĐH hàng đầu châu Á. Lựa theo địa hình đồi dốc, sử dụng vật liệu truyền thống với ngôn ngữ hiện đại, tạo nên một thung lũng tĩnh lặng bên trong công trình mang tầm vóc của một pháo đài tri thức. Giản dị hơn, thiết kế PolyU ở trên một đảo lớn lại chính là bài học xương máu cho những kiến trúc chưa biết đâu là Gió và Nước.

6 (1)a

ĐH Vân Nam

Nằm cách biển chỉ hơn 100km, khi ngược lên phía Bắc, Đô thị Đại học Hòa Lạc sẽ tìm thấy từ Đông Lộ, tên gọi cũ, đầu tiên của ĐH Vân Nam những động lực, khát vọng vượt thoát những vây bủa của rừng sâu, núi cao.

Tiếp theo và hiện thực hóa tầm nhìn địa chiến lược lớn rộng, vỹ đại nhằm khám phá Vân Nam và phần nội địa Trung Hoa lục địa của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, Đường Kế Nghiêu và những người chủ của Đông Lộ mong muốn đó là trường ĐH của Đông Á, nó phải giúp Vân Nam xoay đổi, hướng đông, hướng biển, kết nối với thế giới.

5 (1)a

Singapore Management University

Xuôi phương Nam, các KTS có dịp học hỏi cho thấu đáo kinh nghiệm thiết kế để đáp ứng các tiêu chuẩn Green Mark Platinum của Singapore Management University (SMU) để rồi tự định nghĩa lại về kiến trúc xanh cho bản thân.

Đôi khi, giản dị hơn, khiêm nhường hơn, hãy biết cúi nhìn một con đường ghép bởi những mảnh gốm với những chia sẻ của các nhà triết học, nhà văn, nhà doanh nghiệp như Aristotle, V. Hugo hay Lý Gia Thành… Cũng là tránh trơn trượt mỗi khi trời ẩm ướt hay có mưa…

5 (5)a

Singapore Management University

 

default TH school

4 (2)aThe Hong Kong Polytechnic University- Hành lang rất sâu, rộng để tránh gió, mưa, bão

1 (4)a

1 (5)a

ĐH Bách khoa HN sau 1954- một mô hình kiến trúc giảng đường Xô Viết hiếm hoi tử tế ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phó Giáo sư Minh Sơn, quả táo Newton và Oxbridge

 

DSC04506aChân dung PGS.TS Hoàng Minh Sơn Hiệu trưởng Trường ĐHBKHN, Chủ nhiệm Đề tài Nghiên cứu sắp xếp, sáp nhập, hợp nhất hoặc giải thể các trường đại học Việt Nam.

 

Bức ảnh này anh chụp trong khi em trình bày tóm tắt báo cáo khoa học về làm cách gì, thế nào để trước mắt có thể quy hoạch lại 171 trường công lập trong số 236 trường đại học cả nước.

Chỉ nghĩ đến 171 di sản của trì trệ, tụt hậu đã đủ thất kinh nói gì đến sắp xếp, sáp nhập, hợp nhất hoặc giải thể.
Làm được điều đó có thể là một đại địa chấn, những cơn sóng thần trước các nhóm lợi ích. Khó khăn muôn vàn, sức mỏng, lực yếu, vận hội chưa đến, vậy mà vẫn cứ nghiến răng mà làm, phải làm…

Chẳng biết điều gì đã khiến anh dùng cân đẩu vân để trở lại Oxford và Cambridge.

fixedw_large_4x

Khác xa với những định luật vật lý và quả táo huyền thoại trong vườn trường Trinity College của Newton, có thể nói, công trình của em là Đề tài Khoa học cấp Nhà nước kém “hấp dẫn” nhất trong ngành Giáo dục và Đào tạo?

 

14380377814_b66a0e5e9c_b a

Isaac Newton

Nhìn em mím môi, lo lắng, căng thẳng, vô cớ anh lại nhớ hình ảnh các giáo sư, các linh mục Oxford buộc phải dời bỏ nhà cửa, trường lớp, giáo đường, quê hương để tới xây trường, dựng nghiệp mới ở miền đất ven sông Cam.

LA6M4050

Thần thái của em cũng khiến anh nhớ điêu khắc vua Henry 3 đặt dưới vòm cong của tháp chuông hay đại sảnh đường. Hình như lúc đó ông vừa ra những quyết sách rất cứng rắn để giúp các trường Đại học thoát bỏ những ràng buộc, lợi ích của nhà thờ để trở thành những trung tâm khoa học thực sự độc lập.

LA6M3825Anh rất vui khi cả nhóm nghiên cứu, các nhà khoa học đều say sưa nói về mô hình làng Đại học, đô thị ĐH những mơ ước về một Hệ sinh thái học tập mới cho người Việt.

Vẫn biết đô thị, thành phố công nghệ cao Hòa Lạc đang lạc trôi suốt 20 năm với biết bao hoài nghi, hụt hẫng, mất mát niềm tin. Nhưng biết đâu đó, không xa nữa, có một phép màu khiến tất cả những trường ĐH tử tế nhất sẽ hội tụ dưới mây trắng xứ Đoài, tựa chân núi Ba Vì, nép bên hồ Đồng Mô và xuôi con sông Hát?

HG0J4018

Hồ Xuân Thiện Hội trưởng SV VN ở thành phố ĐH Oxford và các bạn

Đó hẳn là một Hệ sinh thái Oxbridge mới- nơi những cây táo vẫn chín đỏ trái mùa ở xứ nhiệt đới; nơi hậu duệ của Newton sẽ miệt mài viết những định luật hấp dẫn mới của những cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, thứ 5, thứ 6…

( HN, Đại Cồ Việt, Chiều thứ 6, 15.3.19)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những dòng nước ngược?

 

5

Muôn đời các thiên thần vẫn bị … xích cho Con Người được Tự Do?

Hugo ra mắt Những người khốn khổ- Les Misérables năm 1862. Nếu không tìm nhận được nhiều từ một hành trình dữ dội biến Paris thành một trung tâm lớn nhất của châu Âu? Thế giới tinh thần của ông bị ám ảnh bởi điều gì? Ai soi chiếu những cảm xúc đen đúa vỹ đại ấy? Ai đồng hành cùng những nỗi đau, giằn vặt như một mệnh nghiệp đó?

Hugo có ảnh hưởng từ Nhà triết học Jean-Jacques Rousseau  với những mô tả sự thất vọng của ông khi lần đầu tiên đến Paris vào năm 1731: “Tôi mong đợi một thành phố đẹp như một thành phố hùng vĩ, nơi bạn chỉ nhìn thấy những con đường tuyệt vời và cung điện bằng đá cẩm thạch và vàng. Thay vào đó, khi tôi bước vào Faubourg Saint-Marceau, tôi chỉ nhìn thấy những con phố nhỏ hẹp, bẩn thỉu và hôi thối, và những ngôi nhà màu đen phản diện, với không khí không lành mạnh; người ăn xin, nghèo đói…”

Hugo có liên hệ nào đó từ cách mà Voltaire viết từ năm 1749 về Paris : “Chúng tôi đỏ mặt vì xấu hổ khi thấy công trường xây dựng trên những đường phố hẹp, bẩn thỉu và rối loạn liên tục. Thành phố tối, chật chội, ghê tởm, một cái gì đó từ thời man rợ đáng xấu hổ nhất. ”

Hugo đồng điệu với nhà báo Louis-Sébastien Mercier khi ông này phẩm bình về phong cách tân cổ điển, dựa trên mô hình kiến ​​trúc La Mã hồi đầu vào năm 1764: “Đơn điệu là thiên tài của kiến ​​trúc sư chúng tôi! Làm thế nào họ sống trên các bản sao, về sự lặp lại vĩnh cửu! Họ không biết làm thế nào để làm cho tòa nhà nhỏ nhất không có cột … Tất cả chúng nhiều hay ít đều giống các đền thờ. ”

Trong dòng mạch này, đã có lúc tôi hoài nghi nếu còn sống đến khi xây tháp Eiffel,  chắc hẳn Hugo cũng sẽ cùng Guy de Maupassant, các  nhà văn, họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến ​​trúc sư, những tín đồ đam mê của vẻ đẹp hoang sơ của Paris sẽ ví công trình này như “một cái dương thực khí cương cứng, cái tháp vô dụng và quái dị, một tòa tháp lố bịch, một ống khói khổng lồ màu đen thống trị Paris, nghiền nát  hết Notre Dame, Tour Saint-Jacques, Louvre, Dome of les Invalides, Arc de Triomphe , tất cả các di tích nhục nhã của chúng ta sẽ biến mất trong giấc mơ khủng khiếp này.”

7a

Paris 1583 đã thế này rồi V.Hugo ơi ời…

Cống ngầm, Pompidou thì … nổi?

Tôi mang theo tất cả những cảm nhận thất vọng ê chề này lang dạt khắp  Paris của thế kỷ 21.

Một ngày đầu hè 2018, Paris nóng hơn Hà Nội những ngày đỏ lửa, tôi lơ đễnh với Eiffel, không mấy xao động với Kim tự tháp Louvre của Ieoh Ming Pei, hơi nản với Philharmonie concert hall của Jean Nouvel … Bất chợt vấp phải Trung tâm Georges Pompidou. Kiến trúc từng được giải Pritzker này như nhảy sổ vào giữa mặt, trợn trừng dọa nạt. Phải mất một lúc lâu, sau vài vòng đi chung quanh công trình này, khi điềm tĩnh hơn, tôi mới dần quên rằng tờ Le Figaro nổi tiếng nhất xứ này từng tuyên bố cáo trạng: “Paris có con quái vật riêng của nó, giống như ở Loch Ness”.

Hugo từng mô tả còn ghê rợn hơn: “ Dưới thành phố Pari, có một thành phố Pari khác, thành phố cống rãnh. Thành phố cống rãnh cũng có phố phường, có ngã tư, có quảng trường, có ngõ hẻm, có đường sá, có giao lưu, giao lưu của bùn nhơ, duy chỉ thiếu có người.

 Cống Pari đã từng là một thực tế ghê gớm. Nó từng là hầm chôn, cũng đã là hố nấp. Tội ác, trí thông minh, sự phản kháng xã hội, tự do tín ngưỡng, tư tưởng, trộm cướp, nghĩa là tất những gì mà luật pháp loài người săn bắt hay đã săn bắt, đều trốn vào hố đó;  Cống ngầm là lương tâm của thành phố! Tất cả đều hội tụ ở đấy, đối diện ở đấy. Tất cả những dơ bẩn của văn minh khi đã hết tác dụng, đều rơi vào cái hố ngay thật đó. Cảnh hỗn độn, ấy là một cuộc xưng tội.”

8

Paris 1679 đã thế này rồi V.Hugo ơi ời…

May thay, những cơn choáng sốc điên rồ rồi cũng vụt qua. Có một sự bình thản hiếm hoi đã bất ngờ khiến tôi liên tưởng khu phức hợp đa văn hóa của Renzo Piano và Richard Rogers (1977) với RUỘT GAN CON QUÁI KHỔNG LỒ – tác phẩm kiến trúc, thiết kế thành công nhất mà Hugo từng kiến tạo trong không gian văn học thế kỷ 19?
Kỳ lạ hơn, hình như, diễn trình so sánh có phần khập khiễng này có giúp tôi nhận thấy Pompidou còn vượt qua cả “dương thực khí” bẽ bàng Eiffel? Nó chợt tàng hình, giũ bỏ vỏ xác quái vật để đẹp đẽ hơn những con phố Paris ghê bẩn của Voltaire hay Jean-Jacques Rousseau.
Giống như RUỘT GAN CON QUÁI KHỔNG LỒ, khi “ lộn mề”, khỏa thân, Pompidou biến thành một cái gương vỹ đại. Nó hấp thu, phản xạ, khúc xạ, soi chiếu rồi lột trần tất thảy: “Ở đây không có cái dáng bên ngoài giả dối, không có vỏ bọc thanh cao: rác rưởi cởi áo trong, hiện ra hoàn toàn trần trụi; ảo tưởng, ảo hình tan biến, chỉ còn trơ cái thực tại với bộ mặt thảm hại của cảnh kết cục. Cuộc đời thực và sự hủy diệt phơi trần”

 

    9                      Paris 1763 đã thế này rồi V.Hugo ơi ời…                      

Như một bào thai của Tự Do, chìm trong nước ối bi quan, vật vã quá lâu và bị khóa chặt trong một tử cung, một trật tự già cũ và có quá nhiều thứ trì néo, Pompidou chính là con đẻ, hậu duệ hoàn hảo của V.Hugo? Nó di truyền các gen tinh thần cốt lõi của một Paris khốn khổ? Nó là một di sản vật thể đương đại hiếm hoi ở kinh đô tráng lệ này đã phơi nhiễm rồi dám bóc ra một chân dung thật, một tinh thần Hugo khác?
Nó cũng tuyên cáo, rằng, Hugo thừa Bác Ái, đủ Bình Đẳng và hơn hết là trụ vững trên nền tảng Tự Do, lừng lững dưới vòm trời hư cấu, bằng ánh mắt cú vọ sắc rợn, không hề lãng mạn, với ngọn doi rắn độc hay cây trường kiếm ngôn ngữ dữ dằn, V.Hugo khiến sông Seine đứt gãy, đổi dòng, từng góc phố xộc xệch xiêu vẹo, mọi con đường Paris biến hình, biến dạng và đường chân trời kiến trúc nước Pháp nhiều phen chuyển màu, xoay đổi, chao đảo, mất dấu?

Phải chăng, để làm nổi bật một cấu trúc, phối cảnh thân phận con người, một thức kiến trúc ôm trùm, bao phủ lên mọi bản thiết kế, công trình hay đô thị, có phải Hugo đã chấp nhận mạo hiểm khi nhào trộn, đổi màu, lật bỏ và cả đánh tráo hiện thực?

6

Pompidou 2018

Hay là Hugo muốn nhắc nhớ hậu sinh cần phải thoát bỏ vỏ xác ngôn từ, vượt qua cái nhìn thấy, lơ đi cái đọc được. Ông xác quyết: chỉ khi “Con người mở căng đôi mắt trong đêm tối, và cuối cùng thấy được ánh sáng, cũng như tâm hồn người ta mở căng ra trong cảnh khốn cùng, và rồi thấy được Thượng đế.”  Ông chỉ ra: sau những trải nghiệm vật vã, kinh hoàng đó người ta mới có nhiều cơ hội để nhận thấy rồi kiến tạo “Paris là một thành phố điển hình, là khuôn mẫu cho các dân tộc khác rập theo để xây dựng thủ đô, là tổ quốc của lý tưởng, của phát minh, của mọi khởi phát và thể nghiệm, là trung tâm của tri thức, là thành quốc, là tổ ong của ngày xưa”

20180421_172623aaa'

Viết như V. Hugo thì tượng cũng sầu?

“Cái vĩ đại và cái lố bịch” ?

                                       4 (4)a

                                    Bữa trưa trên cỏ – Édouard Manet vẽ 1863

Hơn hai chục năm gần đây, khi tiếp cận với nhiều nguồn thông tin khác, được đến tận nơi, sờ chạm vào từng góc phố, lật từng nắp cống, chiêm ngưỡng tận mắt tác phẩm của các nghệ sỹ, KTS, họa sỹ, điêu khắc gia, nhiếp ảnh gia, các nghệ nhân…, tôi dần nhận thấy có gì đó quá khác, rất khác giữa hư cấu văn học, ngôn từ, cảm xúc hay xa hơn nữa là lý tưởng của Hugo với một thực thể Paris luôn tiếp nối, kế thừa đầy đủ và có chọn lọc nhất từ những quá khứ đầy biến động dữ dội.

Tôi thực sự mông lung, ái ngại trước những cảm nhận của V.Hugo khi chính ông là sự “chung đụng” Chủ nghĩa xã hội không tưởng và Chủ nghĩa Dân túy cực đoan? Ông viết:

“Khi nó muốn, Paris có thể ngớ ngẩn được và lúc bấy giờ thì cả vũ trụ cũng ngớ ngẩn theo. Nhưng rồi Pari thức tỉnh, dụi mắt và nói: “Ơ! Sao mình ngu xuẩn thế!” Thật là một điều kỳ dị, khi cái vĩ đại ấy và cái lố bịch ấy chung đụng với nhau. Paris truyền cho cả nhân loại những lý tưởng nhưng những lâu đài đồ sộ nhất của nền văn minh nhân loại cũng chỉ để cho nó giễu cợt và sẵn sàng làm cho những trò nghịch ngợm thành bất diệt.”

Vậy còn những Paris khác thì sao nhỉ?

1 (3)a
 Sau khi V.Hugo viết Những người khốn khổ… 27 năm, Paris 1889 là thế này cơ mà?
Có ai từng nép mình bên cô thôn nữ đang mải mê đọc sách cạnh bờ suối trong lành, rừng sồi trầm mặc mà Jean-Baptiste-Camille Corot vẽ trong “Rừng Fontainebleau” năm 1830? Ai đã một lần ngây nhìn những người nông dân Paris hiền lành, chất phác, tần tảo trên ruộng đồng trong “The Gleaners” mà Jean-François Millet vẽ hồi 1857? Ai đã từng đến bảo tàng Louvre xem The Luncheon on the Grass, Music in the Tuileries của Édouard Manet vẽ 1862, Dance at Le Moulin de la Galette Pierre mà Auguste Renoir vẽ những người lao động Paris đang xõa tưng bừng trên đồi Montmartre ….?

Sau đó chỉ vài trăm năm thôi, chính họ sẽ bàng hoàng trước một thực tại Paris hoàn toàn tương phản, khác ngược, biến dạng và hơn cả… khốn khổ trong Les Misérables.

4 (2)a

                Rừng Fontainebleau (Jean-Baptiste-Camille Corot vẽ 1830)

                                  1200px-Pierre-Auguste_Renoir,_Le_Moulin_de_la_Galette       

Dance at Le Moulin de la Galette Pierre- Auguste Renoir vẽ  1862 cùng thời điểm Hugo ra sách. Montmartre ngày đó là ngoại ô rất xa trung tâm mà … công nhân đã xõa cỡ này cơ mà?

Có lúc, chính Hugo cho rằng tinh thần của Paris nằm ở ngoại ô. Hãy thử xem cái ông phê bình kiến trúc ghê gớm này đã viết gì về đêm Noel 1832, khi Cosette một mình đi lấy nước ở gần sông Chelles:

“Cái khuôn mặt thê thảm của bóng tối như nghiêng xuống đứa bé. Con bé kinh hoàng nhìn sao Mộc to lạ lùng kia. Ngôi sao đang tiến sát đường chân trời, xuyên qua màn đêm dày đặc, trông đỏ đòng đọc. Sương mù nhuốm một màu đỏ ghê rợn làm cho ngôi sao to thêm ra. Giống như một vết loét ngời sáng. Gió lạnh từ đồng thổi vào. Rừng tối om! Không một tiếng lá sột soạt, không một gợn sóng, thứ ánh sáng mờ mờ. Các cành cây to dựng đứng trông gớm chết. Mấy bụi cây gầy guộc, hình thù kỳ quặc đang rít gió ở ven rừng. Đám cỏ cao vút nhung nhúc dưới làn gió thổi, như một đàn lươn. Những cây gai vặn vẹo như những cánh tay dài nghêu có vuốt đang giơ ra bắt mồi; mấy cành khô gió thổi cuốn nhanh qua như kinh hãi chạy trốn cái gì sắp tới. Tứ bề toàn là cảnh mênh mông kinh khủng. Cảnh rừng là cảnh tận thế. Và cái đập cánh của một linh hồn nhỏ bé bỏng dội lên như một tiếng hấp hối dưới vòm lá bao la”

                                         2 (1)   

                          Hotel de Ville năm 1583 – tranh khắc của Hoffbrauer

                                       2 (2)

                    Hotel de Ville năm 1753 của Nicolas-Jean-Baptiste Raguenet 

                                    4 (3)a

                         “Bathers at Asnières” – Georges Seurat vẽ 1884

350px-Georges_Seurat_-_A_Sunday_on_La_Grande_Jatte_--_1884_-_Google_Art_Project

                                         và “A Sunday on La Grande Jatte”

Vào thế kỷ 16, nếu ai từng ngắm nhìn cây cầu Meuniers (1580), The Hotel de Ville (1583) trong tranh khắc của Theodor Josef Hubert Hoffbauer hay sau này là “Một chiều chủ nhật trên đảo La Grande Jatte”, “Bathers at Asnières” của Georges Seurat vẽ năm 1884, thì khó có thể tưởng tượng sau 400 năm, từ cây cầu có tên mới Change- nơi Javert tự tử, dòng sông Seine lại bẩn thỉu, nguy hiểm và ghê rợn đến thế.

 

1 (2)

                            The Palais-Royal -1679 tranh khắc của Adam Pérelle

Vào thế kỷ 17, nếu ai đã từng xem bức tranh cầu Neuf vẽ năm 1660, bức tranh khắc Cung điện Royal mà Adam Pérelle thực hiện năm 1679 như một phần đại cảnh “Rome mới”  của Louis XIV thì không thể lý giải được vì sao những kiến trúc huy hoàng ấy lại biến mất và Paris chỉ là thứ bối cảnh đáng sợ, kinh tởm, hãi hùng mà cha con Jean Valjean và Cosette lẩn quất, trốn chạy khỏi sự truy sát của cả cảnh sát và bọn tội phạm.

Hugo đã viết: “Một phố của Paris nhưng ban đêm ghê rợn hơn là giữa rừng, ban ngày buồn thảm hơn bãi tha ma  Nếu địa ngục là có thật thì Boulevard de l’Hôpital là con đường dẫn đến đó chỗ này không phải là chỗ qua lại dù là ban trưa”

5 (2)a

Renommée des Arts– Nữ thần Nghệ thuật trên trụ cầu Alexandre III- rất gầ chỗ cớm Ravert tự tử?

Paris từng tạo tác điêu khắc “Louis XIV cưỡi ngựa” do François Girardon thực hiện năm 1692, được dựng lên tại quảng trường Place Vendôme vào năm 1699. Tuyệt phẩm Người suy tưởng (một phần của The Gates of Hell – 1880), Nụ hôn 1889 của Rodin … Không thể tin được rằng thành phố thủ đô nghệ thuật của châu Âu lại có thể bày trò mèo với tượng chú voi xấu xí, bệ rạc, nơi mà cậu bé đường phố Gavroche đã biến bụng voi thành ngôi nhà của lũ trẻ bụi đời.

Hugo không ngần ngại giễu nhại:
Mỗi khu ở Pari đều nổi tiếng với những con vật kỳ quái có thể tìm thấy. Có những con “chọc tai” ở những cổng trường Ursulines, có những con cuốn chiếu ở điện Pantheon, có những con nòng nọc ở quảng trường Champs-de-Mars”

5 (1)a

            Người suy tưởng của Rodin- Musée d’Orsay  Paris 

                    3a

Người phụ nữ bị rắn cắn- 1847, đá cẩm thạch, Musée d’Orsay của Jean-Baptiste Auguste Clésinge

Khác hẳn Notre-Dame de Paris, trong Les Misérables, các kiến trúc tôn giáo hoàn toàn mờ nhạt , xám xịt, đen tối. Không thấy đâu   Saint-Germain-des-Prés (990–1160) như một định nghĩa về văn hóa, nơi bảo tồn có chọn lọc những giá trị của văn học phương Tây, một trung tâm tri thức, trí tuệ của TK 10-12. Trong phần gần cuối cuộc đời bi thảm của mình, trong hành trình điên rồ, vô vọng cuối cùng, khi Jean dạt vòm tới phố Little Picpus, những kiến trúc kinh điển như Patheon (1670- 1678 ) của Kiến trúc sư Libéral Bruanth hay Notre-Dame de Paris (1160–1230)  một ví dụ tốt nhất về kiến trúc Gothic cũng không một lần ló dạng, mất dấu, quên lãng.

Hugo từng viết: “tu viện Petit-Picpus, những bức tường xây bằng đá điếc mà kinh thánh nói đến. Chế độ nhà tu là một vấn đề của con người. Khi nói đến những nhà tu, những nơi trú ngụ của lầm lỗi, nhưng cũng là của thơ ngây trong trắng, của sai lạc nhưng cũng là của thiện chí, của ngu dốt, của tinh thần tận tụy hy sinh, của hình phạt nhưng cũng là của tinh thần tử vì đạo. Một nhà tu là một sự mâu thuẫn. Mục đích là cứu vớt, biện pháp lại là hy sinh. Nhà tu là sự ích kỷ tối cao dẫn tới sự nhẫn nhục tối sao. “Thoái vị để trị vì” hình như là châm ngôn của chế độ nhà tu.”

4 (1)a

                                     Nhà thờ thờ Auvers – Van Gogh vẽ 1890

Nếu ai đã chiêm ngắm bức tranh Nhà thờ Auvers và đọc những gì Van Gogh viết cho em gái Wilhelmina thì sẽ nhận thấy sự tương phản ghê gớm giữa cách nhìn, cách cảm của nhà văn và họa sỹ, hai thiên tài:

“Tôi có một bức tranh lớn hơn về nhà thờ làng. Trong đó, có một hiệu ứng rất lạ, nó khiến tòa nhà dường như nổi bật trên nền trời xanh lục mộc mạc, xanh coban thuần khiết; các cửa sổ kính màu xuất hiện dưới dạng các vệt tối, mái nhà có màu tím và một phần màu da cam. Ở phía trước, một số cây xanh nở rộ và cát dường như lấp lánh với dòng ánh nắng màu hồng của mặt trời”                                                     

PhilNGAWorldGames 073

Phố Paris ngày mưa- Rainy Day 1877 của Gustave Caillebotte, một mô tả chính xác những tác phẩm vỹ đại của Kiến trúc sư Georges-Eugène Haussmann

 Nhìn lại suốt một hành trình Les Misérables dằng dặc, thật khó tin là V.Hugo bỏ qua Khải hoàn môn The Arc de Triomphe (1806–36) tuyệt phẩm của Jean-François Chalgrin, kiến trúc thép kỳ vỹ Galerie d’Orleans tại Palais-Royal (1818–29) của Pierre-François-Léonard Fontaine. Bóng dáng Nhà ga xe lửa Paris đầu tiên Gare Saint-Lazare  (1837) chỉ còn đọng lại trong sự khinh thị của tác giả về “con quái vật màu đen”. Những du thuyền đầu tiên trên sông Seine chỉ còn là những con vịt lạch bạch. Hugo giấu biến đi đâu nội thất của một trong những gian hàng bằng kính và sắt khổng lồ của Les Halles , (1853–1870), chợ trung tâm của Paris, do Victor Baltard thiết kế. Chiến lũy lừng danh Rue Saint-Denis (nay là Rue Rambuteau)  đã hô biến, san phẳng con đường đầu tiên xuyên qua trung tâm thời trung cổ, dưới Louis-Philippe. Cả thủ đô hoa lệ gắn liền với chương trình Cải tạo Paris thời Đệ nhị đế chế và quy hoạch vỹ đại của Georges-Eugène Haussmann thì không có một dòng bình phẩm hay phán xét.

3 (1)a                                                    Khải hoàn môn ….

( còn tiếp)

Paris… khốn khổ?

            Nếu Những người khốn khổ- Les Misérables không trở thành tác phẩm văn học vỹ đại của nhân loại, rất có thể V. Hugo đã nổi danh như một người trầm cảm, tự kỷ, nghiệt ngã, cay đắng và kiên định cực đoan, một nhà phê bình kiến trúc ghê gớm nhất mọi thời đại?

Hành trình Jean Valjean

Jean-Valjean-Les-Miserables  valjean  4504214

Từ khi còn rất nhỏ, tôi đã được V. Hugo đưa dẫn đi dọc ngang bến sinh Bri của Jean Valjean đến Faverolles, Toulon, Digne-les-Bains, Pontarlier, Brun, Montfermeil và Paris.

Tôi lang thang trong ngục tối Toulon. Tôi run rẩy cùng Jean lấy cắp đôi đèn nến trong nhà thờ Digne-les-Bains. Như còn vẳng bên tai lời cha xứ, người duy nhất ở làng chấp nhận chứa chấp tội phạm: “Đây không phải nhà của tôi, mà là nhà của chúa Jesus. Nhà này không hỏi khách có tên không, mà chỉ hỏi họ có nỗi đau khổ gì?”

Ở Digne, tôi chứng kiến Jean Valjean trở thành Monsieur Madeleine. Ông chấn hưng một vùng đất bởi nghề làm thủy tinh đen, cứu sống gã đánh xe ngựa đốn mạt, tự ra tòa nhận tội để minh oan cho một Jean Valjean giả, chăm chút rồi vuốt mắt cho một số phận cùng cực bất hạnh Fantine.

                               50a

Grenoble bên sông Isère 1956- Một nơi rất gần Digne-les-Bains khốn khổ của Fantine?

Sau khi vượt ngục lần cuối ở vịnh Brun, tôi bị Jean Valjean và Cosette lôi tuột vào vòng xoáy rợn ngợp Paris. Ngoại ô Montfermeil buồn thảm với quán cơm ti tiện của bọn cùng dân lưu manh đã trùm phủ, bóp nghẹt cái hiệu đồ chơi, thiên đường li ti, lấp lánh của Cosette.

Nhà tu kín góc phố Le Petit-Picpus hiện nguyên hình một nhà tù khác. Nó tạm an toàn với những kẻ bần cùng nhưng lại hiện nguyên hình một ốc đảo, một nhà tù khác với kẻ vượt ngục. Nó tách rời nhu cầu trần thế, với niềm tin về con người, và đẩy đức tin trở nên xa vời.

Austerlitz- cây cầu mang tên một chiến thắng lớn của Pháp biến thành sàn diễn cho hoạt cảnh truy đuổi nghẹt thở của Javert. Nhịp cầu lịch sử thành nơi đối đầu giữa quyền, nhu cầu, khát vọng sống tử tế với pháp luật lạnh lùng, vô cảm; lằn ranh mong manh, nghiệt ngã giữa đạo đức và đạo lý; Khoảng cách khó san lấp giữa tình cảm và lý trí….

Tôi lụt sâu cống ngầm cùng Jean Valjean và Mariuytx mà không hề biết ngay bên trên và rất gần cái địa ngục ghê tởm ấy lại là những Patheon, Khải hoàn môn, Cung Louvre tráng lệ, những Grand Palais, Petit Palais, cầu Alexandre III mà không lâu sau sẽ trở thành những kiến trúc hấp dẫn nhất thủ đô hoa lệ này.

                        1 (1)a

Paris 1375

 

Cũng như rất nhiều người đương thời, có phải tôi bị Les Misérables mê cuốn vì những luận giải quá thuyết phục của Huogo về tận cùng số phận những người khốn khổ?
Đó là một trước tác vỹ đại về một xã hội không tưởng khi Hugo hồn nhiên chỉ ra nguyên nhân mất tự do, sự nghèo đói, bất bình đẳng, đau khổ là bởi đám người giàu có, bóc lột và chế độ tư hữu…?
Ngày đó, tôi thấy hiển nhiên, không chút hoài nghi, ngờ vực nào khi Hugo, một đại diện lừng lững của Chủ nghĩa Dân túy đã thõng tay ném thẳng Jean Valjean vào bể khổ. Ông chép miệng cảm thông với những kiếp người hay lạnh lùng báo trước Les Misérables không phải làmột  chuyện cổ tích:

“Biển cả ở đây là đêm tối cay nghiệt của xã hội, nơi pháp luật vứt bỏ những nạn nhân của mình. Biển cả, đó là sự khốn khổ mênh mông. Linh hồn, trôi dạt trong vực sâu ấy, có thể trở nên một thây ma.”

                        55a 

Paris, một góc Nhà thờ Đức Bà 1889

 

  • Phần 2: Cái vĩ đại và cái lố bịch
  • Phần 3: Những dòng nước ngược?
  • Phần 4: Cống ngầm, Pompidou thì … nổi?