Quy Nhơn… quy NHÂN ?

Quy Nhơn có thể kiến tạo một thành phố xanh, khiêm nhường nép giữa rừng xanh, biển xanh, trời xanh, một không gian hy vọng hoà hợp ý trời, tuân theo thế vận của đất và thể tất lòng người.

Có những từ khóa ngôn ngữ, mã nguồn lịch sử, bằng chứng văn hóa mà tiền nhân còn ẩn giấu trong mỗi tên gọi, các địa danh Quy Nhơn- Bình Định và Thị Thiện cần được người Quy Nhơn thấu tỏ?


Đôi khi quy hoạch và kiến trúc rất nên khai thác, bóc tách, sàng tuyển các trầm tích ngôn ngữ để phát lộ, chắt lọc, kết tinh một chất liệu khác biệt, kiến tạo cho các đồ án thiết kế một tầm nhìn lớn rộng, bền vững, nhân văn, tinh tế và có sức lan tỏa hơn?

1 (1)Đầm Thị Nại

 

NHÂN

Bình Định có một vài địa danh có tiền, hậu tố Nhơn như Quy Nhơn , Hoài Nhơn, An Nhơn, Nhơn Hậu, Nhơn Bình, Nhơn Châu, Nhơn Hải, Nhơn Hội, Nhơn Lý, Nhơn Phú, Nhơn Thạnh, Nhơn Hưng, Nhơn Phúc, Nhơn An, Nhơn Hạnh, Nhơn Phong, Nhơn Hoà, Nhơn Khánh, Nhơn Lộc, Nhơn Mỹ, Nhơn Thành, Nhơn Thọ. …

Trong một hiện tượng xâm thực, tiếp biến văn hóa đa dạng, phức tạp, khi bản địa hóa, thổ âm Nhơn chỉ thay đổi hình thức phát âm, biến đổi nguyên âm nhưng vẫn giữ nguyên những ngữ nghĩa phức hợp, đa tầng của NHÂN, một từ Hán Việt?
Nhiều từ đồng âm, khi là danh từ, NHÂN có thể hiểu là nguyên khí phát ra, tính tình, phẩm cách, gần gũi, thân mật, đạo lí làm người, chỉ tình trạng thân thể con người, người lớn, người đã trưởng thành, nhân tài, người tài, là nhân trong hạt, phép tính nhân, chỉ nước chảy, nguyên do, duyên cớ, nguyên nhân…

Khi là Động từ, NHÂN là thương, yêu, tâm phục, cảm bội, noi theo, nương tựa, dựa vào, tăng gia, tích lũy, mai một, chảy lan ra, thấm ướt, ứ, tắc, nghẽn, lấp đầy.

Khi là Tính từ NHÂN lại mang ý nghĩa như khuất khúc, xa cách lâu, khoan hậu, có đức hạnh, khoan dung, từ ái, thiện lương, yêu người không lợi riêng mình…

Khi là Trợ từ, NHÂN là thừa dịp, thừa cơ, kế tiếp, tiếp theo, …

Nhiều văn cảnh khác, NHÂN được hiểu như là ma lực, nhân uân- một trạng thái mà khí trời đất hoà hợp, là tế trời, tế lễ với tất cả chân thành, tôn kính, kính trọng, kính cẩn…
Trong lịch sử hàng nghìn năm với quá nhiều biến động, con người nơi đây chắt lọc, kết tinh bao ước mơ, khát vọng rồi ký thác, gửi gắm, ghi tạc chữ NHÂN vào địa danh, ngôn từ, những tiếng gọi thiết thân từng ngày, không vì bất cứ điều gì có thể dễ dãi, tùy tiện xóa bỏ hay đổi thay…

Với thông điệp, tầm nhìn mới, quy hoạch, kiến trúc Quy Nhơn phải là quy tụ, dồn lại, tập hợp, trở lại, trở về rồi kết tạo những mảnh ghép An, Hoà,  Bình, Phúc, Hạnh, Thọ, Phú, Thành, Thạnh (thịnh), Hưng, Khánh, Lộc, Mỹ ….

 

ĐỊNH

4 (1)

 Quy Nhơn 4- 2020. Lõi đô thị sẽ là một thứ virus tàn hủy với quảng trường ngoại lai kệch cỡm, tượng đài điên loạn, xấu xí….?

Để đọc hiểu những thông điệp QUY NHÂN từ hơn nghìn năm của Vijaya, Phật Thệ, Chiêm Thành, Chà Bàn… thật sự không hề dễ dàng. Nếu chỉ có và tiếp tục BÌNH thì thiên ĐỊNH thế nào, địa ĐỊNH ra sao và nhân ĐỊNH tới đâu? ĐỊNH không đồng hành với  HUỆ TUỆ thì sao?
Không thể phủ nhận vai trò lịch sử to lớn, vỹ đại của Nhà Nguyễn trong lịch sử đất nước và miền đất này. Nhưng kể từ khi được chúa Nguyễn định danh, định mệnh hồi thế kỷ 18, sẽ thật buồn nếu Bình Định chỉ là nơi được bị san phẳng, dẹp yên, dập tắt, chấm dứt động loạn như nghĩa đen của ngôn từ. Trong một hoàn cảnh lịch sử dồn nén quá nhiều bi kịch ngặt nghèo, tang thương, có thể tạm cảm thông với một Bình Định được hiểu tới tận cùng, rốt ráo và trọn vẹn như là một lời nguyền đớn đau, ẩn sâu trong một khúc khải hoàn đẫm máu đau thương, nhục nhằn của chúa Nguyễn. Còn với QUY NHƠN, quy NHÂN có tầm vóc, ý nghĩa biểu tượng sáng láng, dài lâu, lớn rộng, hài hòa và nhân văn hơn rất nhiều.
Chiến tranh rồi cũng phải tạm ngưng, nghịch loạn ắt có lúc yên ổn, thái bình, giặc giã rồi cũng hồi hướng thiện lành. Một vùng đất muốn phát triển phải thoát bỏ những cuộc quyết đấu, tranh giành quyền lực, chiếm đoạt lợi ích, xung đột các quan niệm giá trị và con người thì không thể mãi coi nhau là giặc. Ba trăm năm qua, mấy thế kỷ qua, nghịch lý đáng buồn là khái niệm, định nghĩa Bình Định cũ kỹ vẫn đang mở rộng hơn, nó ôm chặt, kiềm tỏa, ngáng trở, khống chế và tàn hủy QUY NHÂN?

 

Nhãn tiền là hình hài, vỏ xác vật chất của Quy Nhơn hôm nay tuy đang được xây dựng với quy mô rất lớn và tốc độ chưa từng có nhưng ở những điểm trọng yếu lại thấy nhiều điều hớ hênh; những gì nhạy cảm nhất lại phô lộ; cái hữu hình tưởng chừng có thể nhai, nuốt lại không cho cảm giác nào cụ thể, xác thực; nhiều điều có thể nhìn được nhưng khó thấy… Buồn thay, khi không quy NHÂN, phác họa Quy Nhơn, Bình Định hôm nay vẫn chẳng khác một bãi chiến trường của hơn 1000 năm là bao? Mỗi lần trở lại, chỉ thấy Quy Nhơn bế tắc hơn? Xứ sở của rừng kề biển mà màu xanh của các mặt nước, dòng chảy, núi rừng, đồng bằng, đầm phá, cây xanh cứ bị chặt phá, héo úa, lụi tàn.

Trên nền một sân bay quân sự lớn từ những năm 60, Quy Nhơn đang đong đếm sự phát triển từ những quảng trường ngoại lai, xa lạ được mở rộng toang hoang với những thảm thực vật mỏng toẹt.  Lõi đô thị hiếm hoi, tinh quý có thể trở thành những kiểu không gian sang trọng như Vườn hoa trung tâm của Hải Phòng, bờ nam sông Hương ( Huế) mà người Pháp từng thiết kế. Vậy mà biến thể Quy Nhơn hôm nay lại nhang nhác trục đường Nguyễn Huệ TP HCM và trở thành lõi hấp thụ nhiệt rẻ tiền. Lịch sử ngậm ngùi sang nhượng lại cho Quy Nhơn một khoảng trống, một quỹ đất đắt giá, một đường băng lớn đến vậy, mà sao thành phố chưa thể cất cánh?

Đâu rồi những chỉnh thể từng được kiến tạo từ những mô thức định cư duyên hải phát triển thông qua giao tiếp, tương tác thương mại, thích ứng với hướng núi, mạch sông, nuôi dưỡng đồng bằng châu thổ, hài hòa với đầm phá và kiên định lấn biển? Vì sao cách tổ chức không gian sống thông minh, giản đơn, thiết thực, hiệu quả của bao người nông dân ít học lại tạo nên một chuỗi các ngôi làng sinh thái trên đầm Thị Nại, Nước Mặn, Trà Ố, Đạm Thủy, Giao Trì, các cửa sông Côn, Lại Giang, Hà Thanh, An Tượng, các cửa biển Kim Bồng, An Giũ, Đề Ghi, Cách Thử…? Vì đâu mà thái độ ứng xử nhân văn, khiêm nhường với thiên nhiên ấy cứ lệch lạc, teo tóp, biến thái mà không được khai triển như một thiết kế tổng thể, hoàn chỉnh, có thể sinh lời, sinh khí, chuyển mệnh, đổi vận một cách khôn ngoan?

1 (2)Hạ lưu sông Côn những mô thức định cư ven sông, duyên hải suốt hàng nghìn năm qua đang có nguy cơ phân rã, phân hủy

4 (3)

Cây xanh, công viên bên con đường mang tên Đô đốc Bảo một người gần như biến mất không xủi tăm ngay sau khi mấy anh em buôn trầu Nhà Tây Sơn thắng quả bất động sản… miền Bắc?

 

Đầm Thị Nại lặng lờ hôm nay có nhắc gì những… người Bắc di cư đang tụ sinh nơi đây đừng vội vã, hàm hồ diễn giải rồi khinh khi, coi thường những Neh, Né, Naih, Nại là nhỏ bé, tầm thường, dễ lợi dụng. Những người dân ngụ cư đang có quyền đưa ra những quyết sách định đoạt tương lai của miền đất này đừng quên chuyện vua Trần Duệ Tông từng ngó lơ Chế Thắng Phu nhân, khinh mạn “Kê minh thập sách”, coi thường sự hiến sinh quả cảm của bà để ngăn cản cuộc hành binh bình Chiêm ngớ ngẩn. Trần Duệ Tông ngông ngạo tiến đánh Chà Bàn rồi bỏ xác nơi trận tiền, trở thành vua duy nhất trong lịch sử tử trận, đẩy một triều đại rực rỡ lao xuống vực suy vong, khởi sự cho đất nước rơi vào thời Bắc thuộc thứ 4 ?
Những năm 60-70 của thế kỷ trước, là một căn cứ quân sự khổng lồ vấy đầy thương tích từ đạn bom, trước bao bão dông, sao Quy Nhơn vẫn còn giữ được những rặng phi lao xanh lớn, những vòng tay rừng ngập mặn bền bỉ, kiên cường mà vẫn hiền hòa, che chở, cưu mang con người?

Hôm nay, những hàng phi lao, một biểu tượng, đại tượng lớn của rừng trước biển đã biến mất, thế chân vào đó là những bonsai phi lao bị xén tỉa thấp tủn, cứng đờ, ngẫn ngờ, vô duyên. Hôm nay, cùng những cây Hợp Hoan ngẩn ngơ, cô độc bên đèo Nhông, Phù Mỹ, phi lao có nhắc gì người xứ Nẫu truyền thuyết từ thế kỷ 18 về một Nguyễn Nhạc ngu muội từng chặt phá những cánh rừng xanh trước mồ mả gia tộc dẫn đến một triều đại tàn vong trong chốc lát?

Những quảng trường ốp đá tênh hênh, nóng sục hôm nay có nhắc gì người dân về những hành xử có thể nói là bạo tàn, bất chấp đạo lý của anh em người buôn trầu họ Hồ từng thẳng tay tàn phá, tiêu diệt các trung tâm kinh tế miền Trung, miền Nam, Hội An, Cù Lao Phố, Chợ Lớn, Mỹ Tho…?

Vì sao, ở xứ sở có 2000- 2600 giờ nắng mỗi năm, Đô đốc Bảo, con đường xanh ấn tượng duy nhất của phố biển cũng chỉ là chốn quy tập ô hợp nhiều cây cháy lá, những dáng cây xiêu vẹo, những loài cây không quen sinh tồn nơi cửa sóng, đầy bão dông. Đây đó, sát biển, những cao ốc bọc kín kính ngật ngưỡng, những tượng đài nôm na, xấu xí, ngơ ngác ….?

Thị

2 (1)

Tháp Yang Mtian. Vì sao có người thuộc dòng vương tộc của người Chăm, Nhà nghiên cứu văn hóa Chăm xuất sắc lại có thể gọi tuyệt phẩm này là tháp Bánh Ít- cái tên miệt thị, khinh bỉ nhưng cùng đầy tự ti của những kẻ thực dân văn hóa đến từ miền Bắc?

Muốn hiểu quá khứ, lý giải hiện tại hay tìm kiếm một sự mách bảo, dự báo nào đó về tương lai tử tế hơn cho Quy Nhơn, để kết nối những giá trị khai sáng, tinh hoa của NHÂN- ĐỊNH, đôi khi chỉ biết cầu may, bám víu vào những điều rất nhỏ trong lịch sử rồi từng bước bóc tách rất nhiều lớp chi tiết, vỉa tầng dữ liệu thông tin bị che phủ, ẩn khuất, từng biến dạng và đang làm thay đổi dòng lịch sử.

Thử lần giở lịch sử tháp cổ Yang Mtian?

Có thể chưa hiểu nghĩa Yang Mtian trong tiếng J’rai. Có thể không hiểu vì sao H. Parmentier- Nhà nghiên cứu người Pháp lại gọi là tháp Bạc- tour d’Argent. Trong ghi chép sử của Nhà Nguyễn thì tên tháp Thổ Sơn chỉ dừng lại mô tả quá nôm na, thô lậu về một thứ vật liệu xây dựng?

Có thể buộc phải bỏ qua những ghi chép của Quách Tấn: “ xa trông giống hình bốn chiếc bánh Ít lá gai lột trần đơm trên mâm cổ bồng vun ngọn”? Chỉ có những đoàn quân thực dân phương bắc quá ngạo mạn mới có thể đặt một phối cảnh tôn giáo, tín ngưỡng, đức tin của dân tộc bại trận trong hình hài một thứ đồ ăn? Chỉ có những mặc cảm, tự ti văn hóa mới xui khiến những người làm nghiên cứu văn hóa biến một đền thờ Shiva, Vishnu, Braham, một mô thức, khái niệm, nhận thức về trật tự vũ trụ thành… miếng ăn?
Có thể cũng phải cất giấu đi cách mà Đại Nam nhất thống chí lý giải việc có người bán hàng dưới chân núi tên là Thị Thiện nên lấy tên riêng đặt cho tháp cổ.

Dường như những khoảng mù của lịch sử đã ngầm mách bảo có một Thị Thiện khác tường minh, sâu sắc, tinh tế và đáng suy ngẫm hơn? Cũng như THỤ trong tháp Thụ Thiện, Thị không thể là chợ búa, kẻ làm thuê hay người đàn bà thấp hèn. Thị phải là nhãn lực, sức nhìn, khả năng thấu suốt, thấu tỏ, thấu cảm và năng lực hiển hiện. Thiện là đức hạnh, người tốt lành, thân thiện, hữu hảo, khéo léo, tài giỏi, thay đổi, trao cho, truyền cho…

Vâng, chỉ với thấu THỊ người ta mới có thể cúi xin hậu duệ của vua Simhavarman – Sạ Đẩu, vua Lý Thái Tông, Trần Duệ Tông, Lê Thánh Tông… từng sống chết ở xứ Vijaya, Phật Thệ, Chiêm Thành, Chà Bàn này hãy quên đi những cuộc chiến tang thương.

Chỉ với cầu THỊ, hậu duệ Chế Chí- Jaya Indravarman IV mới biết theo gương vua thiết lập hòa bình, phát triển bằng tất cả tinh thần dũng cảm, sức mạnh quân sự, thông hiểu triết học, các lý lẽ Dharmasutra và các học thuyết Phật giáo Đại thừa.

Chỉ với Thị Thiện, hậu duệ Chế Bồng Nga, Trần Duệ Tông mới bớt đi ngông ngạo, ngạo nghễ, anh em nhà Tây Sơn mới có thể quên đi những tội tổ tông trong thảm sát Hội An, Cù Lao Phố, Chợ Lớn, Mỹ Tho….

Chỉ với Thị Thiện, trong khi hoạch định tương lai cho xứ này, hậu duệ chúa Nguyễn mới dừng ngay việc bình định Quy Nhơn và không tiếp tục quy hoạch theo kiểu cắt đất chia lô?

2 (3)

Tháp Sri Banoi- Hưng Thạnh- Tháp Dương Long- Tháp Cánh Tiên- Trang trí bệ đá tháp Sri Banoi

Một số kiến trúc đương đại tiếp thu và phát triển kiến trúc Chăm

1 (4)Những hàng phi lao cổ chỉ còn sót lại ở Quy Hòa

4 (2)Bãi biển… nông, mỏng dần

 

Quy Nhơn- Hà Nội ( 7/1992- 5/2020)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thánh ca và Thánh đường

1 (2)

Khi rơi vào tình huống hiểm nghèo của đại dịch, việc buồn tẻ, ám ảnh nhất mà bạn làm mỗi ngày là mở toang cửa sổ, kéo hết rèm, ra đứng ban công, ngắm nhìn bầu trời, ngày và đêm. Nhưng đó cũng có thể là cơ hội hiếm hoi để bạn dịch chuyển cảm xúc, đảo chiều suy tư, đối diện với chính mình.

Bạn sẽ lần giở lại một cuốn sách, nghe lại một bản nhạc hay suy ngẫm về điều gì đó còn ẩn khuất sau một tác phẩm nghệ thuật. Bạn sẽ tìm kiếm được gì đó qua gặp gỡ, giao tiếp, đối thoại với những tác giả mà mình ngưỡng mộ, trân quý, thương mến.

Từng nét bút, con âm hay vệt màu đều cho bạn biết rằng: Biến cố lớn nhất đối với một tác giả, nghệ sỹ đích thực không phải là dịch bệnh. Họ không sợ hãi cái chết, không bị dịch bệnh dẫn dắt, chi phối, điều khiến, thao túng. Từng ngày, mỗi giờ, họ đã tự cách ly xã hội trong cô độc. Biến cố lớn nhất xuất hiện cùng lúc, gần như tức thời và trở thành động lực khi họ sáng tạo. Chạm vào những nỗi buồn lớn nhất của nhân sinh, đồng hành với yêu thương, khi vượt qua những bức tường thời gian để quán sát, dự cảm tương lai, nghệ sỹ không chỉ để lại cho chúng ta tác phẩm.
Thánh ca hoang vu …

1 (3)


Thời …mắc dịch, đường phố, đô thị, xã hội hiện ra một gương mặt hiếm hoi, chân dung bất thường, một thần thái hoàn toàn khác lạ, mách bảo lành ít hơn dữ, buồn nhiều hơn vui.

Mây virus xám xịt, ướp lạnh, đóng gói, bao phủ mùa đông. Con người tự trói mình trong không gian hẹp. Họ gắn kết với nhau, ăn ở, học hành, yêu đương, làm tình đều… bên màn hình máy tính hay điện thoại thông minh.

Ngày Phục sinh, Thánh đường, điểm đến hấp dẫn nhất của du lịch thế giới chỉ còn duy nhất bóng hình Giáo hoàng nằm sấp, bất động. Nền Kinh tế đóng băng. Thất nghiệp đi vào từng gia đình theo thang máy siêu tốc. Sức mua tiêu dùng trượt chân rơi từ ban công tầng cao. Giá dầu mỏ âm sâu đủ chạm đến căn phòng tối nhất của địa ngục. Cảng Hàng không trở thành hộp đựng máy bay đồ chơi….
Trong khi tự cô lập, mọi chức năng cơ thể và đời sống của bạn bắt đầu rối loạn. Bạn không chắc chắn về tương lai của chính mình và cố tưởng tượng hình ảnh, hành vi, cảm xúc liên quan đến người khác. Khi có cơ hội bước ra phố, chỉ còn hoang vu đang đùa giỡn, thổi bùng lên, khuếch tán những âm thanh cô độc rồi lan truyền, khống chế tất thảy mọi ngóc ngách đang trống rỗng.
Bạn sẽ thấy Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục không thể tối hơn. Buổi sáng, không thể nhìn thấy nắng đậu trên cầu Thê Húc. Chiều tối, “Hàm cá mập” không đèn, không nhịp điệu xô bồ. Hàng Đào, Cầu Gỗ, Đinh Lễ, Đinh Tiên Hoàng Lê Thái Tổ heo hắt. Vỉa hè, run rẩy người mẹ già buông thõng cả ánh mắt thất thần, vô định, hóa đá. Hồ Gươm lặng thinh, không còn rùa thiêng ngoi lên đòi gươm báu, trả lại chiến tranh về với hỗn mang càn khôn. Không cách gì để có thể nghe thấy những tiếng rộn ràng Đồng Xuân… ríu rít Hàng Đường , Hàng Bạc, Hàng Gai…

Hãy dừng chân lâu hơn bên Nhà thờ lớn. Nếu là người miền Nam, những người từng sống và trở thành thiên thần cùng với Thánh ca của Trịnh Công Sơn, bạn sẽ thèm được nghe “Lời Buồn Thánh”, “Phúc âm buồn”,  “Dấu chân địa đàng”, “Lời nào cho nhau”. “Đợi có một ngày”…

Bạn hãy đọc lại đôi dòng mà Trịnh đã viết cho Dao Ánh: “Những lần về đây Anh đã nghĩ đến một hành lang giáo đường trên vùng ăn năn, những thân cây đen là những kẻ hành hương trùm áo sẫm, bãi cỏ non xanh, anh nghĩ rằng Ánh có thể mặc áo trắng lụa là đi bằng những bước chân nhỏ nhẹ trên đó. Anh đã cúi mình xuống ý nghĩ và hình ảnh ấy thật lâu như một ám ảnh…”

Và hãy nghe Khánh Ly ma mị: “Chiều chúa nhật buồn. Nằm trong căn gác đìu hiu. Tôi xin em năm ngón tay thiên thần.Trong vùng ăn năn, qua cơn hờn dỗi. Tôi xin năm ngón tay em đưa vào cô đơn.”

Hơn nửa thế kỷ qua, Trịnh như thể được sinh ra để đặc biệt nhạy cảm với những nỗi buồn đau xứ sở, để viết về một ranh giới không có thực, không tồn tại giữa sự sống và sự chết. Nhạc sĩ đã mượn âm vực rộng của “Phúc âm buồn” để nhận thấy “ Cuộc đời đó nửa đêm tiếng ca lên như than phiền. Bàng hoàng lạc gió mây miền.…”

Để rồi:
“Dành trong bao la con đường thật nhỏ. Đợi sẽ có ngày em bước qua. Đợi chờ yêu thương trên cây thánh giá. Đợi xóa sân si dưới bóng bồ đề. Đợi cây lên xanh trên rừng hoạn nạn. Đợi thấy những đường không cách ngăn.”

Bi kịch lớn nhất của đời người là chiến tranh, đói khổ, dịch bệnh. Âm nhạc và ca từ của Sơn man mác một nỗi hoài niệm về thế giới phía sau sự sống. Đã hơn nửa thế kỷ, có lẽ nào những tiếng than khóc cho kiếp nạn chiến tranh lại cũng là nét ký họa chân xác vềtThành phố mùa hoang vu?

Còn có “Lời nào cho nhau”?

Thánh đường xao động!

 

Sistine Chapel-Sáng tạo Eva- The Creation of Eve

Trong không gian quá khứ, trong thiên hà sáng tạo, trong vũ trụ của cái đẹp dường như luôn lấp lánh vô vàn bài học đắt giá, những mách bảo thông minh và cả “vụ nổ lớn” những điều tiên tri…?

Nếu âm nhạc có thể hiển hiện, ôm trùm, bao phủ những khối hình hiện thực đa chiều thì cái ĐẸP của hội họa luôn có lối đi riêng để thẩm nhận bức tranh đời sống đa sắc hơn.

Jose Manuel Ballester và Ngày sinh Thần vệ Nữ

 

Bạn hãy thử ngược dòng thời gian cùng tìm lại những dự cảm rất khác lạ của Jose Manuel Ballester khi KTS, nhiếp ảnh gia Tây Ban Nha bỏ qua, cất hết mọi dấu vết con người vốn là điều không thể thiếu trong những tác phẩm kinh điển của hội họa Phục Hưng đến hiện đại, từ Giotto, Michelangelo đến Picasso.  Ballester quan tâm đến không gian trống và miêu tả con người thông qua dấu tích và phản xạ của họ. Thông qua kiến ​​trúc, tác phẩm của Ballester rò xét, khám phá sự cô đơn, riêng tư của từng cá nhân và những mâu thuẫn của thế giới hiện đại. Những tác phẩm mới này được sao chép, mô phỏng từng phần nhưng phát lộ nhiều điều chưa biết khi quan sát được của tác phẩm gốc, đưa người xem đắm chìm vào bối cảnh không gian.  Ánh sáng trong tác phẩm Ballester tiết lộ tình trạng của con người, làm nổi bật cái vô hình và hữu hình, công khai và riêng tư.

Christinas world

Bạn có thể tìm đến “Thế giới Christina” (1948) một trong những bức tranh nổi tiếng nhất hội họa đương đại Mỹ của Andrew Wyeth để test một không gian tâm lý, hiện tượng tinh thần hay nỗi hoài nghi quá lớn về chính năng lực, khát vọng vượt thoát của con người trước một căn bệnh bí ẩn, giống như virus TQ và hiện vẫn chưa có phương pháp điều trị nào khả quan.

 

Bạn hãy quan sát thật kỹ những gì Heath Robinson- một họa sỹ chuyên vẽ minh họa lừng danh người Anh cuối thế kỷ 19 đã có những mô tả lạ lùng về thế giới hôm nay sẽ thế nào. Có cả những “ tiên tri” hay mách bảo con người cần phải làm gì trước những biến đổi của xã hội, biến dạng của hệ sinh thái trong đại dịch virus TQ.

Phần mình, khi đã bị virus sợ hãi lây nhiễm, xâm nhập, tôi muốn mượn những mẫn cảm về thân phận con người đứng giữa các đường ranh mong manh sống- chết của Trịnh Công Sơn để tìm về Nhà nguyện Sistine.

Trên trần, tường Nhà nguyện, những tác phẩm vỹ đại của nhân loại cho tôi tìm thấy một thứ vaccine hữu dụng và không chỉ điều trị triệu chứng sợ hãi.

Hơn 500 năm trước khi treo mình trên trần Nhà nguyện Sistine vẽ “The Creation of Eve” Michelangelo đã biết rằng Eva cũng như con người, họ sẽ luôn âu lo, van xin, cầu khiến Thiên chúa mỗi khi nhận ra sự thiếu khuyết, không hoàn thiện, yếu ớt, bất lực trước các biến cố giống như khi Adam gục ngã vì mất một rẻ sườn.

Sistine Chapel-Tội lỗi tổ tông và bị xua đuổi khỏi vườn địa đàng- Original Sin and the Banishment from the Garden of Eden

Khi vẽ “Fall of man” Michelangelo đâu có vô tình khi mách bảo virus TQ 2020 cũng không khác gì trái cấm và con rắn trong vườn Thượng Uyển. Đó là những sai lầm, cơ hội vỹ đại để chúng ta tự thanh lọc, thanh tẩy, hoàn lương.

Trong “Phán quyết cuối cùng”, với Đức tin mãnh liệt vào quyền năng Thiên chúa, Michelangelo nhắc nhở chúng ta rằng: Đừng quên, chính con người đã gây ra hàng loạt tội tổ tông, làm hư hỏng toàn bộ thế giới tự nhiên, bao gồm cả bản chất con người. Ngay trong đại dịch, thảm họa, từng việc làm, lời nói, khi lựa chọn thiện hay ác, cuối cùng, chính con người sẽ tự quyết định vận mệnh, cuộc đời của họ cùng sống chết, thắng thua, được mất, vui buồn.

Hơn 500 năm sau, cùng với đức tin và khoa học, con người có thể xác quyết: Cái chết chỉ là vấn đề kỹ thuật, chẳng có gì đáng sợ, con người sẽ sớm tìm ra vaccine! Từ nay đến khi đó, đừng ngạo nghễ, tự hào với chiến thắng ảo? Hãy giữ khoảng cách cần thiết với những điều chưa biết, bất khả kháng và cách ly triệt để với sự sợ hãi!

 

20-5- 2020

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Về “làng HỦI” tìm vaccine sợ hãi?

 

90534095_2701770853267271_5366669251052568576_n

Trung cộng và WHO hợp tác thúc đẩy tuyên truyền tẩy não

 

Đại dịch virus Trung Quốc, nhiều người luôn tự hỏi: dịch bệnh đến từ đâu, bao giờ nó sẽ biến mất? Loài người đã và sẽ hoàn toàn biến dạng vì virus? Kháng nguyên nào cho loài người? Ngoài những dự báo, suy đoán của các nhà tương lai học, doanh nhân, chính trị gia, có thể tìm đâu những kịch bản,  bài thuốc đặc trị nào cho virus sợ hãi? Thế giới- ngôi nhà lớn và cuộc sống của tất cả chúng ta sẽ ra sao?
 Liệu đây có phải là cách mà Chúa trời muốn trả lại cho vũ trụ, tự nhiên một trật tự cân bằng động, tương thích, bình đẳng, hòa ái cho tất cả mọi loài?

Trời tính không bằng… âm tính

 

90205560_1543105959180608_4159847719357120512_n

Trớ trêu thay, khi quắn quýt, rối bời, tan nát bởi virus Tàu, loài người lại dễ bị lộ diện, phơi bày những cái xấu, điều dở.  Virus Tàu luôn biến dạng, chưa thể nắm bắt, kiểm soát và sức tàn hủy thì chưa từng và khôn lường? Và Sợ Hãi mới chính là biến hình, biến thể, chủng mới mà con người phải đối mặt, tuyên chiến?

Mạng xã hội với sự trợ giúp đắc lực của công nghệ chứ không phải các hành vi ứng xử nhân văn đã phác họa rất nhanh chóng, chuẩn xác chân dung của loài người. Từ “sinh vật tàn bạo nhất trong biên niên sử Trái đất” (Yuval Noah Harari) họ biến thành sinh vật nhỏ bé, mong manh, dễ điều khiến và tổn thương nhất.
Virus dính vào bàn tay- biểu tượng của sự kết nối của con người. Nó bùng phát theo từng hơi thở nhẹ nhất. Nó nương theo, lay động cùng những nụ hôn say đắm yêu đương để tấn công thẳng vào hệ hô hấp- chỗ yếu nhất của Homo Sapiens- loài tự cho mình là người khôn ngoan.

29coronavirus_editorial-superJumbo-v7

Chỉ trong vài tháng, dễ thấy, thế giới phân mảnh, quốc gia phong tỏa, thành phố cách ly, nhà nhà đóng cửa và không ít người được khuyến cáo nên cố thủ  bằng… cấm khẩu.

Từng ngày, số người lây nhiễm, chết và thị trường chứng khoán cùng nhau vẽ những vết đỏ rực, kinh dị trên các đồ thị, biểu đồ, bản đồ. Ra đường, bên quán ăn, trên tàu điện ngầm, trong khoang máy bay,  người ta nhìn nhau lạnh lùng, căng thẳng như thể đang đeo kính hiển vi quan sát bệnh phẩm. Khẩu trang là bộ sản phẩm nổi bật để nhận diện , định vị thương hiệu của con người – xã hội.
Mọi con đường hướng về thành Roma đều mất dấu. Ngay trong đại lễ, Vatican không một bóng người sính hành lễ. Bóng Giáo hoàng đi bộ cầu nguyện trên phố mà như lữ khách cô độc trên hoang mạc sau bão cát hủy diệt.

Donal Trump- Nhà buôn lạnh lùng, Tổng thống không giống ai cũng có chút thất thần, lạc sắc khi công bố đại dịch. Boris Johnson- Thủ tướng Anh xuất hiện trước báo chí với mái tóc bù xù và lúng túng khi dẫn giải lý thuyết khoa học về miễn dịch cộng đồng làm cho không ít người lầm tưởng sự buông bỏ là thái độ chính trị của chính phủ.

89722611_10218948352952172_1627542912965279744_n

Ở bên Tàu, chưa đủ dữ liệu để tính sổ một cuộc chiến tranh sinh học, chính trị hoá đại khủng hoảng virus là việc chủ đích và có thật? Chính trị không còn là khởi đầu ” sự hình thành các trách nhiệm xã hội”. Tham vọng, cuồng vọng quyền lực đủ khiến người ta “cưỡng ép, khuyếch tán” và tung các binh đoàn virus ra toàn cầu? Gương mặt virus Trung Quốc táng tận mau chóng hiện hình bộ dạng mới, trong danh xưng cúm Ý, Pháp, Anh, Mỹ. Thành phố ổ dịch Vũ Hán đột ngột khốn nạn khi trình diễn những màn khải hoàn đáng ngờ. Nhà văn Tạ Duy Anh ngày nào từng ngán ngẩm: Trung Quốc là một nước lớn, một nền văn hóa vỹ đại, nhưng về mặt chính trị, chưa bao giờ nó thoát khỏi thân phận một con bệnh khổng lồ. Thứ mà họ luôn thiếu là những vị bác sĩ tinh thần”.

Còn trên đất nước này, từ thế kỷ 13, lần đầu tiên hơn nửa vạn người Việt đột ngột, dồn dập hồi hương, một cuộc di tản rất lạ và khác ngược hoàn toàn với hành trình bôn tẩu của Lý Tường Long, những người lính miền Bắc trong hình hài “Cái Bang” thất thểu lấn chiếm Đông Âu hay Bên thua cuộc nống chiếm địa bàn tị nạn Little SaiGon.

Ở một trại cách ly dành cho người hồi hương, khi một người nghi lây chéo, có ai đó sợ hãi khóc thét: Người tính không bằng trời tính. Trời tính không bằng… âm tính!

Kháng nguyên nào?

01

Khác với rất nhiều đại dịch trước đây, trong đại dịch virus Trung Quốc, trong một không gian tưởng chừng khủng hoảng sâu sắc, toàn diện và chưa từng có, loài người lại có một vũ khí, công cụ với sức mạnh, ưu thế thực sự vượt trội. Đó là thông tin đa dạng, nhiều chiều, cập nhật nhanh, lan tỏa rộng và gần như được xử lý tức thời trên toàn cầu. Thông tin chính là kháng nguyên mà loài người cần.

Khi nhiều người dân đều đồng lòng với “Ngồi im… toàn thắng ắt về ta”- khẩu hiệu giễu nhại một mật lệnh cực kỳ khát máu, dã man, khốn nạn, được deco rất giản dị trong một quán cà phê đối diện với Ngôi nhà của Chúa ở trung tâm Hà Nội. Bản năng sống mạnh mẽ được kích hoạt bởi sự hài hước đã xui khiến họ không dễ dãi giam trói bản thân trong thụ động.

Với nhiều người, đại dịch chính là một cơ hội lớn để có nhiều thời gian hơn cho trầm tư thiền định. Từng nhịp hít sâu, thở dài, theo cách của những du già, hành giả, thiền sư, họ dịch chuyển ngược vào trong ký ức, cảm xúc, trải nghiệm và hy vọng. Họ cần có nhiều thông tin đa chiều, sâu sắc hơn. Họ mong muốn, chủ động tìm kiếm một cách nhìn mới, một tầm nhìn lớn như những kháng thể mạnh mẽ.

ntdvn_virus-corona a

Diêm Liên Khoa- GS Trường ĐH Công nghệ Hongkong

Có nhiều người sẽ cẩn trọng tìm đến góc những phán xét, phán quyết sắc lạnh, chuẩn xác của Diêm Liên Khoa- GS Trường ĐH Công nghệ Hongkong về căn bệnh xóa bỏ ký ức từng nhiều lần phát tác ghê gớm ở Trung Hoa, khiến cho người dân xứ này hoàn toàn thụ động, bị động, bất lực mỗi khi thảm họa bùng phát?

Không nhiều người sẽ tin Matthias Horx, nhà nghiên cứu tương lai theo thuyết vị lai (futurologist) của Đức. Dù có đưa ra kịch bản Mùa thu 2020 quá đẹp đẽ, mùi mẫn, lãng mạn thì tác giả đừng để sự tưởng tượng trở thành một thứ thuốc giảm đau? Dù tiếp cận ngược từ tương lai theo kiểu RE Gnose nhưng tác giả có nên tự mâu thuẫn khi coi Virus Trung Quốc là một khủng hoảng trầm trọng? Thế giới mà chúng ta quen thuộc hiện đang tan rã? Thế giới văn minh đã sập nguồn? Lịch sử loài người chứng kiến những bước rẽ của tương lai và thời khắc một đi không bao giờ trở lại bình thường?

images

Một số người say mê trí tuệ lạ thường của người Do Thái có thể sẽ phải bỏ qua phần lớn ý kiến, định kiến, thiên kiến của Yuval Noah Harari. Trong hai bài viết gần đây trên Time và Financial Times, bên cạnh những dẫn luận cực kỳ hay, khi thăm khám cho thực tại, hơi tiếc tác giả của Lược sử loài người đã bỏ qua nguồn Trung Quốc, gốc dịch bệnh, bệnh nhân, bệnh phẩm và nặng lời phán xét, quy kết về nước Mỹ như một kẻ vô trách nhiệm? Tệ hơn, sau khi kẻ cả, châm chọc, mỉa mai ý tưởng xây dựng một “cộng đồng mật thiết” bằng mạng xã hội trực tuyến của Mark  Zuckerberg hồi 2017, người viết Lược sử tương lai đã ỡm ờ đồng tình với những gì mà Chinazism muốn giam hãm, cai trị hơn 1 tỷ dân Trung Hoa thông qua kiểm soát thông tin cá nhân của họ? Trong khi cực kỳ thông thái mổ xẻ cái chết kỹ thuật và lạc quan với các cơ hội “bất tử” của loài người, tác giả 21 bài học cho thế kỷ 21 lại lãng quên “Trung Hoa mấy nghìn năm theo Binh Pháp Tôn Tử và chỉ có sản xuất giấy, gốm và sự lừa dối” là đáng kể?

Các chính trị gia, nhà quản trị, quản lý sẽ rất thích lắng nghe bài phát biểu vo, khôn ngoan, chuẩn mực, cảm động khác lạ của TT Đức Angela Merkel hôm 18-3.

Trong con mắt của những người yêu nghệ thuật sáng tạo, Virus là một điêu khắc ý niệm siêu nhỏ. Nó thay đổi toàn bộ nhận thức, cảm xúc của loài người về chính họ.

Với những người yêu thích quan sát sự chuyển dịch của vũ trụ, virus cũng như những vì sao trong thiên hà, nó là một phần vốn thế mà hàng tỷ năm qua Chúa trời vẫn mải mê thêm bớt, điều chỉnh, thay đổi rồi kiến tạo theo hướng hoàn thiện vũ trụ này…

Khi thông tin dần được chọn lọc và cô đặc, dường như đại dịch đang cho loài người một cơ hội tuyệt vời để đi chậm lại, tạm dừng lại, nhìn nhận và tìm kiếm những kháng nguyên tốt nhất, để nhìn lại những tội lỗi, tội ác của chính mình trong việc tàn hủy hệ sinh thái tự nhiên rồi ngăn chặn sự lụi tàn của thế giới bằng tất cả những mẫn cảm sinh học.

Làng HỦI- Cách không Ly?

Những kiến trúc điển hình của “làng hủi”

Cũng như đại dịch hạch, lao, tả, sốt rét… Virus Trung Quốc bất ngờ ập đến, tự đi và thỉnh thoảng sẽ quay lại. Như lẽ thường, phải mất nhiều năm nữa con người mới tìm ra phương thuốc điều trị bệnh thay cho điều trị triệu chứng.

Giải pháp tốt nhất, duy nhất của loài người hiện nay với virus Trung Quốc là cách ly, cách ly và cách ly. Các cụm từ cách ly xã hội, tự cách ly, tạm trú và trú ẩn được liên tục lặp lại với tần suất rất cao trên tất cả các kênh thông tin toàn cầu.

Nhưng điều quan tâm nhất với xã hội lúc này đáng lẽ phải là tìm phác đồ điều trị cho virus Sợ Hãi. Thảm họa Sợ Hãi sẽ kéo dài và còn lớn hơn rất, rất nhiều lần thiệt hại về người từ căn bệnh quái ác virus Tàu.

Khi chưa tạm yên lòng với các dự báo, tiên tri của các nhà tương lai học, triết học, sử học, chính trị gia thế giới, tại sao chúng ta không tìm kiếm những lời mách bảo gần gũi hơn?

Hãy thử trở về “làng hủi” Quy Hòa miền Trung, khai quật quá khứ, tìm lại, dựa vào một mô hình đã được kiểm chứng, thực chứng bằng bao mất mát, đau khổ, bi thương?

Cách đây gần 100 năm, bệnh hủi cũng từng đe dọa cuộc sống của rất nhiều người. Da thịt người mắc bệnh thường phát nhọt, lở loét. Khi nặng hơn vết thương lõm vào da thịt. Lông mày  rụng, mắt lồi, lộ ra, thanh quản bị lở nên giọng nói khàn. Người bệnh cũng không còn cảm giác nóng, lạnh và đau. Tình trạng mất cảm giác xuất hiện ở một vài bộ phận trên cơ thể do dây thần kinh bị nhiễm trùng, rất hôi tanh. Sau khi các bắp thịt tiêu đi, gân cốt co làm hai bàn tay co quắp. Người bị nhiễm bệnh thường chịu thành kiến, sự hắt hủi, xa lánh thậm chí bị ngược đãi. Có người bị bỏ trôi sông, chôn sống, bỏ vào rừng cho thú dữ ǎn thịt.

Sự kỳ thị, khinh bỉ, nỗi sợ hãi HỦI còn man dã hơn nhiều lần so với việc chửi rủa N17, N24, xua đuổi người da trắng, người nước ngoài, bỉ bôi người hồi hương, kể cả những gì sắp phải chứng kiến…

Ngày đó, hủi cũng vô phương cứu chữa như virus Tàu.

sách Levi

Văn bản Dead Sea Scroll của Đại học Jerusalem được phát hiện là “giống hệt ” với phiên bản Sách Leviticus đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ

Cha-Maheu-Co-My-va-Hoi-hoc-Phap-Nam-Qui-Nhon

linh mục, KTS Paul Maheu (cố Mỹ) và Hội học Pháp Quy Nhơn

Vậy mà, Chúa trời, Đức tin tôn giáo, Kinh Cựu Ước, từng trang, từng dòng về dịch bệnh trong sách Lê vi, niềm tin vào sự tử tế của con người, tình thương mến đồng loại đã chỉ đường, dẫn lối cho các linh mục, KTS Paul Maheu, Charles Antoine và Ozithe… xuyên rừng, vượt biển, lặn lội tìm kiếm, xây cất bệnh viện và một ngôi làng cho người bệnh hủi. Cả nước hiện có 140 trại cách ly virus TQ, nhưng chưa có một không gian nào đủ nhân văn để bén gót “Làng hủi” xa xưa.

Tuy đã nhiều phần bị hắt hủi, thực sự tàn phế nhưng khi lật tìm từng viên gạch, hàng ngói hay lõi quy hoạch- kiến trúc, các di sản vật chất vẫn chưa kịp bị các virus CS phá hủy, phân hủy thì vẫn đủ nhận thấy đây không chỉ là một tác phẩm quy hoạch, kiến trúc kỳ lạ. Trong vài trăm năm qua, kể cả Hành Thiện, Phước Tích, Tiên cảnh…chưa có một không gian làng Việt nào vừa đậm bản sắc truyền thống lại vừa hiện đại, sang trọng và gần gũi với Mẹ thiên nhiên nhường vậy.

Trong hoàn cảnh cùng cực nghèo khó, chắc chắn là thiếu thốn hơn hiện nay, các linh mục, nữ tu (Ma souer), bác sỹ, bệnh nhân đều chắt chiu từng vật liệu, chất liệu nhỏ nhất để kiến thiết thiên đường riêng cho chính mình. Nhà thờ thấp hơn hàng dừa. Bệnh viện lớn hơn nhà thờ. Nhà ở gần biển hơn.  Vườn lớn hơn nhà. Cây nhiều hơn đồ. Hàng hiên là rộng nhất.

Mỗi con đường, hàng rào, hàng cây, vườn cây, hàng hiên, vườn tượng, nhà thờ, bãi biển… đều thơm sạch.

Mỗi ô thoáng trên mặt tiền, mỗi tấm kính trên cửa xoay ngoài hàng hiên nhà thờ đều không đơn thuần chuyển tải các câu chuyện huyền thoại hay biểu tượng của Thiên Chúa. Trước khi nhà thờ trở thành một không gian thiêng, từng chi tiết đều giúp cho căn nhà chung, kiến trúc miền nhiệt đới luôn thoáng, mát và tỏa sáng. Không gian sinh hoạt chung đều rất mở, tường vách, hàng rào rất linh hoạt, kết tạo bởi các vật liệu thông gió kết hợp trang trí.

Làng, chốn ở, nơi chữa bệnh không chỉ dừng lại là một hằng số văn hóa cộng đồng. Đó còn là một cơ thể sống tràn đầy sinh lực. Nơi đâu cũng đều dễ thấy dấu ấn, biểu tượng của sự ngợi ca, vinh danh con người, Thiên Chúa.

Esculape- Hippocrates- Louis Pasteur – Alexandre Émile Jean Yersin

Vượt qua những khó khăn cùng quẫn hồi thập kỷ 80, những cư dân “Làng HỦI” còn dựng lên vườn tượng độc nhất vô nhị nhằm ngợi ca, tôn vinh những thầy thuốc, các nhà bác học đã xả thân vì sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho nhân loại.

Đó là Esculape – con trai của thần Appolon, ông tổ của ngành Y dược; Hippocrates cha đẻ của Y học và là người thầy thuốc vĩ đại nhất lịch sử thời Hy Lạp cổ đại; Heinrich Hermann Robert Koch (1843-1910) bác sĩ và nhà sinh học người Đức, người đã tìm ra trực khuẩn bệnh than (1877), trực khuẩn lao (1882) và vi khuẩn bệnh tả (1883), một trong số những người đặt nền móng cho vi khuẩn học; Charles Louis Alphonse Laveran (1845 –1922) bác sĩ người Pháp đã phát hiện nguyên nhân gây ra bệnh sốt rét; Louis Pasteur (1822 –  1895) cha đẻ của Vi sinh vật học, người  phát hiện về các nguyên tắc của tiêm chủng đã cứu sống biết bao con người; Alexandre Émile Jean Yersin (1863-1943) bác sĩ y khoa, nhà vi khuẩn học người Pháp, người đồng phát hiện ra trực khuẩn gây ra bệnh dịch hạch…

Làng Hủi cũng khiêm tốn dành cho bệnh nhân, thi sỹ Hàn Mạc Tử một không gian riêng. Ngày xa, nơi đó, trong những cơn đau vật vã, Hàn Mạc Tử- người chỉ muốn tìm sự bình an trong đêm lạnh- hàn mạc. Có thể thấy rõ điều này khi nghe nhà thơ điên loạn dịu dàng rao bán trăng: “ai mua trăng tôi bán trăng cho”. (Bệnh nhân hủi thường rất đau đớn trong những đêm trăng sáng).

Cũng như “Làng hủi”, cuộc đời, sự nghiệp và cách xuất hiện của những nhân vật kỳ lạ trên mách bảo rất nhiều điều về các quy tắc mới để xử lý đại dịch trong hiện tại và bộ quy tắc ứng xử với các thảm họa khác trong tương lai.

Với thông điệp lớn nhất- mọi không gian, mọi cách ứng xử đều là vắc xin, là dược phẩm của thể xác và linh hồn, vượt qua mong muốn ban đầu, “làng hủi” không còn là một bãi biển hoang, trại cách ly, nơi nuôi dưỡng dịch bệnh tủi nhục, cô đơn, bất hạnh.  Làng HỦI không tự cách ly, nó kết nối với phần còn lại của nhân loại theo một cách chưa từng và không quá khó để nhận thấy.

Khi không còn quay lưng với sự kỳ thị, khinh bỉ, rẻ rúng, kinh hãi của đồng loại, khi trở thành một không gian chữa bệnh an toàn, không gian sống an tĩnh, làng HỦI trở thành ngôi nhà tuyệt đẹp của Chúa, thiên đường ngay chốn trần gian. Chính nơi đây, con người bình thản, an nhiên vượt qua sự đe dọa của bệnh dịch,nỗi đau đớn thể xác, cái chết. Hơn thế, họ chiến thắng nỗi sợ hãi.

2 (3)

 Nhà lưu niệm của Hàn Mạc Tử

Nhà thờ Quy Hòa- Ngôi nhà của Chúa- Điểm nhấn tuyệt đẹp của tình người thương mến!

HN 20-3-2020

Ghi chú:

20160804_163405 0

Một Bộ trưởng hủi lậu, vô duyên, vô dạng, vô liêm xỉ cũng cố “ngạo nghễ” chen thân vào vườn tượng danh nhân ngành y?

Việc làm này có khác gì những phản ứng chậm trễ vô lối, vô cảm của trọng, những chỉ thị thiếu chuẩn mực của phúc hay các phát ngôn bất cẩn đến ngớ ngẩn của đam?

75 năm qua, đó là một chuỗi những hiện tượng nhằm xây dựng bộ quy tắc ứng xử rất xa lạ với chuẩn mực của loài người?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đại dịch, Hỏa Ngục và Ký sinh Trùng

4 (4)

Cái chết của Nô-ê-  tranh trên mái vòm Nhà thờ San Lorenzo, Florence  của Pietro Benvenuti (1828-1837)

Đại dịch, chiến tranh, nhân tai, thiên tai, các thảm họa luôn là một phần vốn thế của trật tự vũ trụ này. Trong các biến cố đó, bên cạnh việc phơi bày bao điều xấu xa, nguy khốn, sợ hãi, con người còn có muôn vàn cơ hội để tự nhìn lại mình, tồn sinh, trưởng thành, tiến hóa.

Ít ngày sống chung với đại dịch cúm Vũ Hán- cúm Tàu, trong từng stt trên Fb, từ mỗi đoản văn, ghi chép của một vài KTS, lại có thể thấy rất rõ vết dấu quá khứ, chân dung hiện tại, tương lai người viết và cả những biến hình của nó trong các bản thiết kế?

Trốn tìm trong đại dịch?

4 (2)
Phán quyết cuối cùng của Pietro Benvenuti (1828-1837)

Khi những diễn tiến của dịch cúm Vũ Hán ngày càng càng phức tạp và nguy hiểm, cũng như nhiều người, tôi hạn chế ra khỏi nhà. Phần nhiều thời gian tôi lên mạng Fb, đọc lại thảm họa dịch hạch Cái chết đen, xem lại phim Hỏa ngục, Ký sinh trùng và Thần khúc của Dante.

Trong một lộ trình kéo dài 8 thế kỷ, không phải vô tình những tác phẩm thơ ca, văn học, hội họa, điện ảnh như đều có chung một kịch bản, cùng thiết kế. Đó là những không gian chìm khuất, khó nhận dạng, dung chứa nhiều li kỳ, bí ẩn, nguy cơ, hiểm họa, ghê gớm, choáng ngợp. Từ điều nhỏ bé đến một phối cảnh vô cùng to lớn đều hướng đến, chiếu soi mọi ngóc ngách cơ thể để làm nổi bật con người trong lúc đối diện với cái chết, đi tới tận cùng thảm họa, bi kịch, bất hạnh, đau khổ.

Ở một hướng ít ngờ nhất, tất thảy đều trở thành những chiều kích làm tăng quỹ vốn sợ hãi của con người. Có lúc cảm tưởng Fb gần với bản tin ngày tận thế. Vài lúc, khi mọi tín hiệu của niềm tin đều mất sóng, văn học, điện ảnh chỉ như một loại cồn xoa tay. Nó không kết nối được gì nhiều, không tẩy rửa được bao nhiêu dấu vết hiểm nguy ngay khi làm lạnh hơn những bàn tay đang run rẩy. Các cánh cửa có hình hài loại khẩu trang than hoạt tính 4 lớp. Chúng khép chặt, ngăn cách mọi người với phần còn lại của cộng đồng .

Trong một khí quyển tinh thần khá u ám, chưa hoảng loạn nhưng nhiều bất lực, lo sợ, tôi chợt đọc những điều em nghĩ ẩu, viết sai trên Fb.

Khi thông tin không đầy đủ, không minh bạch hoặc đã bị điều chế theo một hướng khác với sự thật, em văng lời tục tĩu, mắng chửi những người dân hoảng loạn, những người dân đen yếm thế đang bám víu bất kỳ điều gì dù chỉ để tự trấn an. Em vừa chê bạn bè ngu dốt vừa khuyến cáo mọi người nên tin vào… chính quyền- những điều vốn không còn gì đáng tin, những biến thể mới của Người- Virus? Mấy hôm sau, như hối lỗi, em chia sẻ một bài vè trần trụi sự thật được chuyển tải bằng ngôn từ thô tục, ngổn ngang tuyệt vọng…

Hàng nghìn năm qua, con người luôn phải đối diện với biết bao dịch bệnh, thảm họa. Như không ít người lo lắng, hoảng sợ, em hoàn toàn bất cẩn, vô ý, vô tình, vô thức khi biến từng câu nói, cử chỉ, hành xử của mình trở thành một loại ký sinh trùng, virus mới khó lường, nguy cơ lây nhiễm cao, dễ đột nhập, xâm chiếm và tàn phá cơ thể dư luận xã hội?

Tôi nhắm mắt lại, không khó hình dung, mường tượng những công trình mà em thiết kế. Tôi rùng mình khi thấy hình ảnh, phối cảnh, ý tứ, ngữ pháp, câu chuyện và không gian kiến trúc cứ như hình với bóng với ngôn từ, câu chữ, thái độ của em.

Em toàn thiết kế nhà cho các đại gia. Những bản thiết kế mà em yêu thích thì gần như không có gì mới, không thoát được sự sao chép từ những khối hình cũ kỹ như máy ở của Le Courbusie. Những ban công hướng nội, lạ hóa về hình thức chỉ nhang nhác sự bế tắc. Những tường, vách, cửa kính rất lớn, cho người giàu có, kiểu Ludwig Mies van der Rohe chỉ tạm phù hợp với khí hậu ôn đới châu Âu, cơn cớ gì lại hiển hiện ở ngôi nhà miền Trung đầy nắng thừa gió. Đừng đẩy chữ Mies trong tên riêng của KTS lừng danh này theo một nghĩa quá tệ?

Quê em có nhiều kiến trúc “trùng thiềm” – một giải pháp tuyệt hay để thích ứng với khí hậu nóng ẩm hay giá lạnh. Vì sao công trình của em lại có những mái dốc lớn đến phi lý. Em biến THIỀM bộ MỘC ( mái, hiên) thành Thiềm bộ NGÔN cần hiểu là nhiều lời, mê sảng? Trên những khu đất rất rộng, ở mặt tiền có chỗ đỗ xe o tô chật hẹp, bí bức và chỉ tiện cho khí thải xộc thẳng vào phòng khách ngợp đầy thiết bị nội thất đắt tiền.

Em từng lớn tiếng khinh chê, xỉ mắng một VTN (KTS trẻ háo danh, có nhiều giải thưởng thế giới từ những kiến trúc giả, lấy cây làm họa phẩm để tô quệt màu xanh cho công trình, thiết kế khiến chủ nhà lâm bệnh, phát điên). Nói như kiểu người miền Trung, sao tôi thấy trong nét vẽ, câu chữ và các bản thiết kế của em lại quá ngạo… nghễ?

Tiếc nhất là không thấy nhiều trong em, trong công trình em chủ trì những kiến thức, tri thức hay chuỗi lớp giá trị mà một trường ĐH lớn, một trung tâm khoa học danh giá của Tokyo, của Nhật Bản đã dày công tích lũy, kết nối, truyền thụ và chuyển giao cho sinh viên.

Mùi banchiha và 9 tầng phản tỉnh

1

Vực Địa ngục của Sandro Botticelli

Xem Ký sinh trùng của Bong Joon-ho, tôi muốn cùng em vượt banchiha- nhà hầm nửa chìm, nửa nổi, thoát căn hầm sâu trong biệt thự sang chảnh của KTS Nam goon. Từ những nơi chốn tối tăm nhất, nơi bài tiết cao hơn bàn thờ, nơi kết nối với bên ngoài bởi tín hiệu ánh sáng giả lập được gõ, ấn từ những cái đầu be bét máu… Từ nơi chốn bất ngờ nhất, các ký sinh trùng có thể dần thoát ra khỏi nơi trốn trú để tiêu diệt thân chủ.

Trong khi đang khá vất vả, lao tâm, khổ tứ đi tìm những cái mới lạ, một giải thưởng lớn như Oscar đã ngửi thấy từ những tầng ngầm của Parasite- Ký sinh trùng một thứ mùi thực sự thời thượng. Thứ mùi từ Đông hay Tây, Âu hay Á, bất kỳ ai, từ tất cả các nhân vật, không kể giàu nghèo, sang hèn đều có thể là một loại ký sinh trùng đang loay hoay, bấn loạn, cùng quẫn trong chuỗi sống.

01

Florence nhìn từ Quảng Trường Michelangelo

5a                  5

Cầu Ponte Vecchio, Florence

Không đi vào lịch sử điện ảnh với chuỗi giải thưởng Oscar danh giá, nhưng, hơn hẳn Ký sinh trùng, Hỏa ngục của Dan Brown thu về hơn 220 triệu Mỹ kim thu và tưng bừng đút túi 140 triệu tiền lời. Dan Brown đã rất công phu để khắc họa một cuộc chiến ngăn chặn một thứ vũ khí sinh học có thể đẩy thế giới đến cuộc tuyệt chủng lần thứ 5.

Không phải tự nhiên Dan Brown lấy bối cảnh GS Langdon gặp tai nạn trên cầu Ponte Vecchio huyền thoại. Florence, quê hương Dante và Sandro Botticelli không chỉ là ẩn dụ để khắc họa lại đại dịch. Cái chết đen từng đến từ Trung Quốc hồi giữa TK 14 đã tàn hủy phần lớn châu Âu, hơn 200 triệu người, 1/3 dân số đã chết, trong đó, Florence thê thảm nhất, thành phố chỉ còn lại 1/3 dân số.

Dan Brown đã tìm được bao nhiêu chất liệu để dẫn dắt, lôi cuốn, thắt cởi, đóng mở những biến cố, kịch tính, bi kịch từ nguồn mạch lớn của Thần khúc, Vực Địa ngục, 9 tầng địa ngục của Dante.

Đó là tầng Limbo (U Minh). Tầng Lust (Nhục Dục). Tầng Gluttony (Phàm Ăn). Tầng Greed (Tham Lam). Wrath (Thịnh Nộ). Tầng Heresy (Dị Giáo). Tầng Violence (Bạo Lực). Tầng Fraud (Gian Trá). Tầng Traitors (Phản Bội). Và ngay sau Địa ngục còn đó Luyện ngục, nơi con người thẩm nhận tận cùng nỗi sợ hãi rồi tự tin hơn, mau bước tới, vươn tới giấc mơ, khát vọng Thiên đường.

Và ngay sau Địa ngục, còn đó, Luyện ngục, nơi con người thẩm nhận tận cùng nỗi sợ hãi rồi tự tin hơn, mau bước tới, vươn tới giấc mơ, khát vọng Thiên đường.

Như một lời nhắn nhủ

84044784_10221882017458309_620230437599444992_n

Trên trang của mình, Marco De Angelis một họa sỹ người Ý có đăng Real  virus? Trong tác phẩm đó, con virus Vũ Hán đang dùng kính hiển vi để phóng đại, phóng chiếu thảm trạng của con người. Nó kinh hãi, trố mắt, lè lưỡi khi quan sát và phát hiện Trái đất như là một cơ thể sống và con người chính là nhung nhúc virus có thể quật ngã, giết chết, tàn hủy thân chủ, môi trường sống của chính nó? Dường như họa sỹ run rẩy đặt câu hỏi: Real virus? Có phải con người cũng thực sự là một loài virus?

Chẳng phải chính Hỏa ngục và Ký sinh trùng giành giải thưởng,  đoạt phần thưởng lớn vì nó cùng cách nhìn, tầm nhìn với Marco De Angelis khi truyền đi một chuỗi những thông điệp: Đại dịch lớn nhất chính là khi con người đã biến thái thành một vi trùng có hình hài khác, một chủng virus mới? Biến thể Người- Virus đều rất khó khăn hoặc mất dần kỹ năng ngửi, tự cảm nhận bản thân, luôn bất cẩn với chính mình? Đại dịch chính là sự trừng phạt không tránh khỏi, là sự phản tỉnh? Đó cũng chính là môi trường để thúc đẩy con người tìm kiếm chất kháng nguyên, thúc đẩy kháng thể miễn dịch.

8

Niccolò Machiavelli- triết gia, chính khách ý- phác thảo của Michelangelo

Hãy cẩn trọng trước mọi loại virus, hãy cố vượt lũy tre làng, vượt chính mình, ghé Nam Hàn, trở lại Florence.

Sau thế kỷ 14, đi qua đại dịch Cái chết đen, Triết gia, chính khách Niccolò Machiavelli từng nhắn nhủ: “ Như tất cả những gì mà kẻ cai trị khôn ngoan phải làm, người La Mã đã đối phó với không chỉ những rắc rối hiện tại mà cả những vấn đề có thể phát sinh hoặc vô tình sa vào trong tương lai.  Như các bác sĩ thường nói khi căn bệnh được phát hiện sớm nó có thể dễ dàng khắc phục. Để bắt đầu, thường là khó chẩn đoán nhưng dễ chữa; sau một thời gian nó trở nên dễ chẩn đoán nhưng khó chữa hơn. Nếu bạn chờ đợi nó xuất hiện, bất kỳ loại thuốc nào cũng sẽ quá muộn vì có những căn bệnh sẽ trở nên vô phương cứu chữa”.

Đó cũng chính là cách mà chúng ta cần sống và vượt qua đại dịch hay căn bệnh khó chữa của chính mình.

2 (2)                            2 (3)

2 (4)

Cổng nhà nguyện Baptistery, được Michelangelo gọi là Cổng thiên đường- tác phẩm miêu tả về những bối cảnh trong Cựu Ước của Lorenzo Ghiberti ( 1425 và 1452) .

HN 25-2- 2020

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những con đường Khải Hoàn

Paris là một đô thị của những con đường khải hoàn. Tâm điểm con đường là Trục lịch sử- Axe historique. Nơi đây, người Pháp chào đón một năm mới cùng những sự kiện, lễ hội lớn nhất trong năm. Nơi đây ghi khắc, lưu dấu, tái hiện bao chiến thắng ngoạn mục, những đóng góp phi thường, tôn vinh khát vọng phát triển, thịnh vượng, hòa bình, nhân văn của nước Pháp. Vinh danh Paris, mặc khải  quyền năng của sự sáng thế, theo cách ngắn gọn, cô đúc, giàu hình ảnh và nhiều cảm xúc suy tưởng hơn, người đời  gọi đó là Kinh đô Ánh sáng.

1 (2)
Phải bay lên rất cao, hướng về các quận trung tâm ở phía Tây, thành phố hiện ra bởi tổ hợp rất nhiều đại lộ thẳng tắp, lớn, rộng, cổng chào đột khởi, các dãy nhà cân đối, ngăn nắp, đồng nhất, quảng trường hoành tráng, đường đi dạo lãng mạn, công viên kỳ thú, rừng cây xanh ngát, hoang sơ.

Giao cắt của những đại lộ, con đường lớn đã tạo hình rất nhiều vì sao, vệ tinh mà Place de l’Étoile là hành tinh trung tâm, nổi bật, hội tụ và lan tỏa. Khi gọi tên mỗi địa danh, chạm vào những hào quang này, người ta gặp lại, cảm thấy, thấu thị những sự kiện làm thay đổi trật tự thế giới, những con người từng kiến tạo nên những trang mới trong tiến trình phát triển của châu Âu và nhân loại. Hơn 3 thế kỷ qua, không chỉ khi bầu trời về đêm, thành phố lên đèn, trên trục lịch sử, từ mọi phối cảnh văn hóa, các con đường luôn bừng sáng, rạng rỡ, lấp lánh.

 

Place de l’Étoile – Quảng trường ngôi sao

1 (1)    DwJ-mGVWsAAXeWT

So với Quảng trường Charles-de-gaulle, tên gọi hiện nay, Place de l’Étoile là một di sản vật thể dễ nhìn thấy, gần với cái trực cảm, nó dẫn dắt, gợi mở cảm hứng về một không gian lớn rộng hơn trong mỗi bước đi, từng dịch chuyển và sự thay đổi.

Không ai có thể hiểu Paris khi chưa đi xuyên qua Trục lịch sử- Axe historique với hàng trăm cung điện, đền đài, khu vườn cổ tích bên dòng sông Seine huyền thoại.  Không ai có thể chứng tỏ là mình đã đến Paris khi chưa đặt chân đến 12 con đường lớn, các Đại lộ Grande Armée, Charles de Gaulle, Champs-Élysées, Foch, Victor-Hugo, Carnot, Wagram, Khải Hoàn Môn
Đó là các đại lộ mang tên Foch Carnot, Jean-Baptiste Kléber, François Séverin Marceau-Desgraviers, Lazare Hoche, những chiến tướng quả cảm trong đoàn quân Napoleon. Đó là con đường mang tên Grande Armée, đội quân, các tập đoàn quân hùng mạnh nhất được huy động trong lịch sử chiến tranh quân sự. Con đường Wagram – chiến thắng trận mạc của một thiên tài quân sự vĩ đại bậc nhất trong lịch sử nhân loại, người đã tạo ra và là chủ nhân một đế quốc trải rộng khắp miền tây và miền trung của châu Âu. Đó là con đường mang tên  trận chiến Iéna, nơi mà Hegel nhận thấy sự cáo chung của thời “tiền sử” và xã hội loài người đã thúc đẩy tiến hóa tới “trạng thái đồng nhất, phổ quát”. Với đại lộ V. Hugo, đồng hành với nhà văn vỹ đại, mỗi người có thể tìm thấy từ mỗi con chữ để khai mở “cuộc hành trình từ ác đến thiện, từ bất công đến công bằng, từ giả đến thật, từ bóng tối đến ánh sáng”.

2001.67_o2        DSC02092 a        DSC02120a         DSC02121a

 

Cuối cùng, trên Con đường khải hoàn không thể quên Đại lộ Champs-Élysées. Mỗi năm, nơi đây tổ chức các sự kiện, lễ hội quan trọng nhất của Paris, như Duyệt binh ngày 14 tháng 7, chặng cuối của cuộc đua xe  Tour de France… Champs-Élysées có nhiều cửa hàng, quán cà phê, rạp hát sang trọng, thu hút hơn100 triệu lượt du khách mỗi năm. Hơn thế, đúng như tên gọi từ xa xưa, từ cánh đồng Elysian, Élysées mở ra những tầm nhìn vượt thời gian để chạm tới thiên đường dành riêng cho những nhân vật anh hùng trong thần thoại.

 

Ngôi sao Haussman và di sản Haussmannian

0000000993L         hinh-18

Cách Khải hoàn môn không xa, nối dài theo đại lộ Friedland là Boulevard Haussmann, con đường mang tên KTS, người từng xóa bỏ, thay đổi và kiến tạo để Paris có dáng vóc, tầm vóc như ngày nay.

Cải tạo Paris thời Đệ nhị đế chế của Haussmann thực sự tạo nên Haussmannia, một di sản văn hóa khổng lồ. Đó là một đại công trình quy mô lớn, bao gồm việc phá hủy những khu phố thời trung cổ đông đúc, chật chội và không lành mạnh; xây dựng các đại lộ rộng lớn; công viên và quảng trường mới; mở rộng nội đô ra vùng ngoại ô và việc xây dựng các hệ thống ống dẫn nước, đài phun nước và cống mới.

Không nghi ngờ gì, giữa thế kỷ 19, trung tâm thành phố Paris vẫn giữ nguyên quy hoạch có từ thời Trung Cổ. Thành phố thể hiện sự tương phản giữa công trình kỳ vỹ, tượng đài xa hoa bên cạnh các khu nhà ổ chuột dột nát. Những con đường nhỏ hẹp gây khó khăn cho lưu thông và những ngôi nhà chen chúc trong các khu phố bẩn thỉu. Mật độ dân số một vài quận trung tâm lên tới gần 100.000 người trên một km².

Voltaire từng phàn nàn: Paris “được thiết lập trên những con đường hẹp, bẩn thỉu, ô nhiễm và hỗn loạn.” Ngày đó, thành phố thê thảm gần như những gì V.Hugo mô tả cường điệu trong các tác phẩm văn học của mình. Nếu đọc Balzac, người ta sẽ thấy hầu hết các nhân vật chỉ di chuyển trong khu nhà ở, hai hoặc ba con phố nhỏ.

Trong Lễ kỷ niệm 100 năm ngày mất của Haussmann, tại bảo tàng Orsay, một nhà sử học nói rằng: “Không có khả năng đi thẳng từ phía Nam đến phía Bắc thủ đô, cũng không có cách nào để đi từ Đông sang Tây. Người ta không ngừng bị ngáng chắn, vấp ngã, bởi khu ổ chuột, doanh trại hay những ngôi nhà, không phải lúc nào cũng đẹp,… vấn đề giao thông thật điên rồ! “. Paris cũng từng mắc dịch tả thảm khốc năm 1842 làm chết 19.000 người. Ngày xa đó, người dân, Haussmann, Napoleon III chỉ mong sao Paris “lưu thông phương tiện, lưu thông vốn, lưu thông không khí, lưu thông người dân… ”

franz-xaver-winterhalter-portrait-de-lempereur-napoléon-iii  Napoleon III and Maxilian of Mexico in the Tuileries Garden

Napoleon III và Quốc vương Mexico trong vườn Tuileries ( tranh William Bouguereau)

 

Vua Napoleon III là ” người đầy tham vọng, nghệ sĩ mơ mộng “. Từng sống ở Mỹ, Anh, Napoleon III rất ngưỡng mộ các quốc gia này bởi những đột phá tuyệt vời về kiến trúc, về kích cỡ, biên độ của những con đường rộng, công viên lớn, cuộc sống thì sạch sẽ, vệ sinh hơn rất nhiều.

Năm 1852, Napoleon III từng nói với mọi thần dân: “Paris là trái tim của nước Pháp. Chúng ta hãy nỗ lực để tôn tạo thành phố tuyệt vời này. Chúng ta hãy mở những con đường mới, làm cho các khu dân cư lao động có đủ không khí, ánh sáng và trở nên lành mạnh hơn. Hãy để mặt trời tỏa sáng đến mọi nơi trong từng bức tường của chúng ta ”

Napoleon III lựa chọn, giao nhiệm vụ cho Haussmann-“người có thể biểu đạt mọi ước muốn của ông thành hiện thực”.

Trong khoảng thời gian từ năm 1852 đến năm 1870, thay vì quy hoạch từng khu vực và cải tạo dần dần, Haussmann đã nỗ lực thực hiện một đồ án tổng hợp và toàn diện. Trong 18 năm điều hành, Haussmann chi 2,5 tỷ francs, huy động 70.000 lao động.
Haussmann phá hủy Paris trước thế kỷ 17 như thể có một tình trạng khẩn cấp buộc phải làm như vậy. 117.000 căn bị phá bỏ, trong đó có chính tòa nhà nơi Haussmann sinh ra.

Có nhiều nhà văn đương thời khóc than:”Paris không còn nữa, thành phố thay đổi quá nhanh và nó giống như trái tim của một kẻ phàm tục, bệnh hoạn”. Haussmann đã “tàn phá Paris bằng súng máy “. Một người yêu thích kiến ​​trúc thời trung cổ như Victor Hugo cũng trở thành kẻ thù của sự… hủy diệt.

3 (10)

Gạt qua mọi trở lực, trong nỗ lực nâng cao chất lượng sống cho Paris, ưu tiên hàng đầu của Haussmann là hệ thống giao thông của Paris được hoàn thiện bằng việc xây dựng các trục Đông-Tây và Bắc-Nam xuyên thành phố và hoàn thành đại lộ vành đai. Boulevard thường là những đường vành đai rộng, có chức năng cải thiện môi trường, mang ánh sáng, không khí và cây xanh cho đô thị. Avenue là những đại lộ thẳng có chức năng thiết kế đô thị, kết nối các công trình mang tính biểu tượng. Các đại lộ, giao lộ cũng tạo nên nhiều quảng trường mới như ÉtoileLéon-BlumAlma hay Cộng Hòa  …

Tiếp theo hạ tầng giao thông là cải tạo, nâng cấp, làm mới 500km cống. Cấu trúc lại hệ thống dẫn nước cách xa thành phố được với hai nguồn nước suối để uống và nước sông để dùng cho vệ sinh. Haussmann viết lại: “Dưới lòng đất là một phần của thành phố lớn. Không có ánh sáng ban ngày,nó hoạt động như một bộ phận của cơ thể con người. Nước sạch, trong lành lưu thông và duy trì nhịp sống, các chất thải được lấy đi một cách cẩn trọng và không làm xáo trộn hoạt động tích cực của thành phố và không làm hỏng bề ngoài đẹp đẽ của nó ”

3 (8)  3 (6)    3 (7)

Những quy chuẩn kiến trúc Haussmann vẫn hiện tồn

Về kiến trúc, Haussmann áp đặt các quy định, tiêu chuẩn rất nghiêm ngặt về kích thước và trật tự của ngôi nhà, giới hạn chiều cao đồng nhất, kiến trúc cao tối đa là 6 tầng. Kiến tạo phối cảnh mới cho Paris, dự án khổng lồ của Haussmann đã xây hàng loạt công trình mới. Nhà hát Opera Paris, năm trường trung học, tái thiết và mở rộng Hôtel-Dieu de Paris, bệnh viện lâu đời nhất của thành phố, hoàn thành phần cuối cùng của Bảo tàng Louvre;  xây dựng các công trình tôn giáo như Nhà thờ Saint-Eugène (nay là Nhà thờ Saint-Eugène-Sainte-Cécile), Nhà thờ Chúa ba ngôiNhà thờ Saint-Ambroise và Nhà thờ Saint-Augustin; xây dựng cây cầu đường sắt đầu tiên băng qua sông Seine, xây dựng hai nhà ga đường sắt mới, xây chợ Les Halles,  xây dựng 34.000 tòa nhà, với 215.300 căn hộ chung cư mới…

Để “giải độc” cho thành phố, Haussmann thiết lập 1800 hecta công viên công cộng có quy mô lớn, 24 công viên nhỏ trong các khu dân cư  khắp Paris. Công viên Bois de Vincennes lớn nhất Paris. Công viên Boulogne mô phỏng Công viên Hyde ở London, rộng hơn gần 3 lần Công viên Trung tâm New York. Công viên Chaumont lấy cảm hứng từ Đền VestaTivoli, Ý . Công viên Buttes-Chaumont, được hoán chuyển từ một mỏ đá thạch cao thời Trung cổ, một kinh đô của chuột.

Hơn hai thế kỷ qua, Haussmannian là nguồn cảm hứng, và đã ảnh hưởng sâu sắc tới quy hoạch ở một số thành phố như Rouen, DijonAngers,LilleToulouseAvignonMontpellier,ToulonLyonNimes, Marseille và một số thành phố vệ tinh như Issy-les-Moulineaux hay Puteaux. Haussmannian cũng để lại dấu ấn rất rõ nét ở BrusselsRomeBarcelonaMadridStockholm, Istanbul, Cairo, Bucharest và các thuộc địa như Algiers, Việt nam.

Trước những di sản vỹ đại của Haussmann, giới quy hoạch thế giới nhìn nhận ông là người mở đường cho quy hoạch và xây dựng đô thị hiện đại, đặt nền tảng phương pháp luận và tiếp cận không gian đô thị như là đối tượng của khoa học ứng dụng, là người đầu tiên nhìn nhận các mối liên hệ cơ bản nhà ở, giao thông, chính trị. Cũng trong đồ án cải tạo Paris của Haussmann, lần đầu tiên chúng ta thấy một sự dịch chuyển từ quy hoạch thiên về thiết kế thị giác sang quy hoạch lấy kinh tế, xã hội và môi trường  làm trung tâm.

Paris có 6.000 đường, phố, đại lộ. Không tính các con đường trong rừng.

Tổng chiều dài: khoảng 1.700 km

Tổng diện tích: khoảng 26.500.000 m² (chiếm 25% diện tích không gian Paris)

382 đường công cộng cho người đi bộ hoặc hạn chế giao thông, dài khoảng 42,5 km, rộng khoảng 302.800 m2

10.750 giao lộ

479 quảng trường

1.558 giao lộ là quảng trường.

Đại lộ Foch, rộng nhất Paris: rộng 120 m.

1 (5)  La Résistance de 1814 ,  kỷ niệm cuộc kháng chiến của Pháp cùng với quân đội đồng minh trong cuộc chiến của Liên minh thứ sáu (điêu khắc Antoine Étex ) .

1 (8)
Hòa Bình- La Paix de 1815 , kỷ niệm Hiệp ước Paris (điêu khắc Antoine Étex )

1 (4)
Chiến thắng Alexandria, Ai Cập ngày 3 tháng 7 năm 1798

1 (9)
trận Arcole

2 (1)

Kim tự tháp kính của I.Pei, điểm khởi đầu của Con đường Khải hoàn

Khải hoàn môn Arc de Triomphe

Hệ thống hạ tầng ngầm TK19, tư liệu Bảo tàng Orsay

3 (9)

Một thiết kế của Kỹ sư Alphand một cộng sự đắc lực của Haussmann

Dấu ấn thay đổi của Paris trong các tác phẩm hội họa Ấn tượng của

4 (1)

Nhà hàng de la Sirène, Asnières của Vincent van Gogh (1887)

4 (2)

Cảng Marly của Alfred Sisley( 1872)

Cầu Argenteuil của Claude Monet( 1873 and 1874) và Bữa trưa trên cỏManet Edouard (1863)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bernini và Vatican

f

h

Quảng trường Thánh Peter  Vatican và kiến trúc của Bernini

 

Lần đầu tiên đứng trước Vatican, thú thực, tôi bối rối, choáng váng, ngây ngất.

Phải mất một lúc lâu tôi mới hồi tâm và tự hỏi: Để… chạm khẽ vào thành phố nhỏ bé nhất thế giới nhưng tầng tầng lớp lớp những tuyệt phẩm kiến trúc, điêu khắc, hội họa, trang trí nội thất thì nên bắt đầu từ đâu, thời đại, công trình, tác phẩm nào, của ai…?

Những câu hỏi không nhỏ này cứ đeo đẳng mãi ngay cả khi tôi đã dời xa miền đất mà bất kỳ ai cũng bảo rằng: Mọi con đường trên thế gian này đều dẫn đến thành Roma.

Tình cờ, một lần ghé qua quán ăn Ý trong một khu đô thị mới của Hà Nội. Thật buồn, ngay phía sau lưng tôi là chú ngựa tung bờm được chép lại từ điêu khắc “Vua Louis XIV cưỡi ngựa” đang đặt ở Cung điện Versailles, Pháp. Khuất lấp bởi hàng ghế cao là cái tên từng khiến bất kỳ ai yêu quý Vatican, Roma- trung tâm nghệ thuật thế giới đều phải sửng sốt, kinh ngạc, khâm phục: Bernini!

Có điều gì mách bảo, dù chỉ bằng tâm tưởng, ký ức, hồi nhớ, hãy trở lại ngay Vatican huyền thoại.

Bay cùng Cupid

a

Tranh tường Thiên thần và những câu chuyện ẩn dụ khi lý giải về Kinh Thánh của Thánh Augustine 

Tôi nhớ lại cảm giác như được các thiên thần bé nhỏ gọi mời, nâng đỡ, dìu dắt rồi cùng bay lên trên khoảng không rộng lớn của Vatican. Tôi như vượt qua mái vòm huyền thoại, lướt trên khu vườn Giardini Vaticani cổ tích rồi lang thang, treo mình trên những bức tranh tường…

Khi bay cao trên bầu trời Roma chẳng hiểu vì sao tôi lại nhớ về Florence, Tuscan. Cùng đến từ xứ sở lạ kỳ này để kiến tạo một Vatican huyền thoại, Leonardo và Michelangelo thì quá vỹ đại. Phần lớn di sản hội họa của Sandro Botticelli, và Rafael, … thì vẫn lơ lửng trên tường, trần, cao và xa quá. KTS Donato Bramante thật đáng nể nhưng dấu ấn của ông chưa thực sự tạo nên những kết nối, chuyển tiếp của Thời đại Phục hưng như Baroque. Những tác phẩm kiến trúc nổi tiếng nhất của Filippo Brunelleschi chỉ dừng lại ở quê hương…?

Đang lúc phân vân, do dự, cân nhắc, lựa chọn, hình như chính những cậu bé Cupid, Eros, thiên sứ bé nhỏ, có đôi cánh hồn nhiên, những mũi tên yêu cảm tính, không chút toan tính, con trai của Mars và Venus đã đến và thì thầm bên tai tôi: Gian Lorenzo Bernini!

Theo mách bảo đó, tôi chợt nhớ rằng mình mới chỉ vội vã lướt qua Apollo và Daphne của Bernini ở bảo tàng Louvre, Paris. Tôi chưa kịp đến Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan, New York để trực cảm, chiêm ngưỡng Thần dê bị các thiên thần trêu chọc (1562-1629)- một tác phẩm siêu phàm, không tưởng về giải phẫu đá. Tôi không đủ thời gian đến Santa Maria della VittoriaRome để thưởng lãm The Ecstasy of Saint Teresa- Sự bàng hoàng của Thánh Teresa-  tuyệt phẩm của nghệ thuật Baroque trong Nhà nguyện Cornaro, St Mary of the Victory. Tôi mong sẽ một lần được diện kiến  The Goat Amalthea with the Infant Jupiter and a Faun- Dê Amalthea với thần Jupiter và thần Rừng- tác phẩm được Gian Lorenzo Bernini thực hiện vào khoảng giữa năm 1609 và 1615 khi ông mới 8 tuổi và hiện nằm trong Bộ sưu tập Borghese tại Galleria Borghese … 

 

Bù lại, trước Vatican, sự nghiệp vỹ đại của Bernini hiển hiện trong rất nhiều các tác phẩm quy hoạch, kiến trúc, điêu khắc, trang trí…

Đó là những hàng cột Colonnade  có kích cỡ, quy mô khổng lồ, chưa từng thấy, một không gian gợi lên cảm giác choáng ngợp. Đó là hồi quang rực rỡ được tái hiện, phóng chiếu, khuếch đại từ những hàng cột Doric của La Mã hùng tráng khi xưa. Những hàng cột trầm mặc, uy nghi, kiêu hãnh không chỉ đưa ra một định nghĩa, khái niệm kinh điển về không gian quảng trường. Kích cỡ bất ngờ, không tưởng của vật liệu đá không chỉ định vị và mở ra một quảng trường lớn, nơi nhiều người nhất có thể nhìn thấy Đức Giáo Hoàng ban phước lành từ ban công. Với Quảng trường St. Peter’s Basilica, Bernini mong muốn biến đó trở thành một biểu tượng, sự mặc khải về thiên đường. Tới đó, sau một hành trình dài, bước vào quảng trường rực rỡ, mọi giáo dân tìm thấy, cảm nhận sâu sắc từ tuyệt phẩm kiến trúc này một “Vòng tay của Mẹ” thiên chúa, của Giáo hội, Giáo hoàng

ga
Trung tâm quảng trường St. Peter’s Basilica , sừng sững, kiêu hãnh cột biểu tượng của văn minh Ai Cập. Ngày ngày, Bernini đã biến obelisk- thành chiếc đồng hồ mặt trời lặng lẽ mô tả những chuyển vận huyền hoặc, miên viễn, không dừng nghỉ của vũ trụ? Đó là ngón tay của Thiên chúa nhắc nhớ nơi đây Thánh Peter đã bị đóng đinh?

e
Trung tâm nhà thờ Thánh Peter, xuyên qua tương phản sáng tối những tia sáng thần Crepuscular màu cam hiện ra lúc bình minh và hoàng hôn, dưới mái vòm huyền thoại lấy cảm hứng từ mái vòm khổng lồ Pantheon cổ đại  của Michelangelo là Nhà nguyện, ban thờ Thành Peter. Trên cột xoắn solomonicas, gợi nhớ Jerusalem, nơi Chúa Kitô  bị đóng đinh, phục sinh và lên trời. Đây là tác phẩm đầu tiên mà Bernini tạo nên những hài hòa  của chuyển động kỳ ảo từ cái tĩnh lặng, một phối cảnh mới của điêu khắc và kiến ​​trúc, thể hiện sự phát triển quan trọng trong thiết kế và trang trí nội thất nhà thờ. Tầm nhìn thống nhất, độc đáo  mang đến những công trình, tác phẩm “không có gì giống như nó từng được nhìn thấy trước đây.

Ở những nơi khác trong Vatican, Bernini đã sắp xếp lại, kiến tạo, tôn vinh không gian trống rỗng hoặc không có thẩm mỹ hiện tồn thành một tổng thể kỳ vĩ. Và cho đến ngày nay chúng vẫn là biểu tượng không thể xóa nhòa.

 

Lời nhắn từ bộ xương tử thần

c

Tôi dừng lại rất lâu trước Lăng mộ của Giáo hoàng Alexander VII. Tác phẩm mô tả Đức Thánh Cha quỳ gối, mải mê cầu nguyện. Chung quanh Đức Thánh Cha là Thần Nhân Ái- Charity bế một đứa trẻ trên tay, Thần Chân Lý- Truth đặt chân lên bản đồ thế giới. Và bên dưới, bất ngờ hơn là bộ xương của Tử thần được mạ vàng đang giơ cao đồng hồ cát biểu tượng của “memento mori”- “Hãy nhớ bạn sẽ chết!”.

Kể từ khi 8 tuổi, với điêu khắc một cái đầu đá, thiên tài Bernini đủ khiến Giáo hoàng Paul V choáng váng tuyên bố: “Chúng ta hy vọng rằng thần đồng này sẽ trở thành Michelangelo trong thế kỷ của cậu ấy.”

Và thực sự là suốt hơn 70 năm sau đó, Bernini làm thay đổi diện mạo của Rome thế kỷ 17 cũng như Michelangelo đã định hình Florence và Rome một thế kỷ trước.

Để có được thành tựu  phi thường đó, cả đời, Bernini là một nghệ sỹ kỷ luật, tự giác và làm việc không mệt mỏi.  Người đời ngờ rằng, trong hơn 80 năm, Bernini chỉ dành vài tháng cho ăn và ngủ. Mỗi ngày, sau khi dùng than đánh dấu trên đá cẩm thạch ở một trăm nơi cho các cộng sự, bản thân Bernini lao động bảy giờ trên một khối đá cẩm thạch. Theo mô tả của một người bạn, nhà điêu khắc vừa trò chuyện sôi nổi về các công việc trong khi vẫn cúi gập mình, mải mê đục đẽo  không dừng nghỉ.

Có phải mượn tử thần trong điêu khắc cuối cùng của mình, Bernini nhắc nhớ mọi người rằng: thời gian đã và sẽ lạnh lùng trôi qua. Và hơn 80 năm sống đời, bằng mọi nỗ lực, Bernini không dễ dàng tuân phục rồi tìm mọi cách vượt thoát quy luật nghiệt ngã, không tránh khỏi của trật tự vũ trụ?

Bernini trở nên bất tử theo cách bình dị mà khó ai có thể theo được?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chuyển giao ký ức?

Nhiều năm qua, cho đến tận hôm nay, ngay cả khi bị chiếm đoạt, tước đoạt, chửi bới, khinh bỉ, lăng nhục… tôi chọn cắn răng chịu đựng, chấp nhận, nhún nhường.
 
Tôi biết mình không ngu khờ, cam chịu, bất lực…
 
Tôi có đủ niềm tin rằng, có lúc nào đó, dù muộn, rất nhiều người sẽ nhìn nhận lại những điều họ đã làm.
 
Xin cảm ơn cuộc đời đã giăng bẫy, ngáng trở, xếp đặt, dàn dựng những thách thức, biến cố quá lớn, vượt rất xa sức tưởng tượng…
 
Gần 1/4 thế kỷ qua, trong từng ngày, tôi cố gắng đặt cược, giữ gìn đức tin không gì lay chuyển đó.
 
Tôi đang dần lương thiện!
 

2 (1)

Phía sau sen gỗ, đôi chim Uyên ương, cá là huyền thoại về người mẹ của vua Lê Hoàn, một biểu tượng phồn thực…

Cuộc đời là một hành trình miên viễn không thủy vô chung, không khởi đầu chẳng kết thúc.

Ngôi nhà dù ở lâu hay mau cũng chỉ là bến dừng, ga xép của cõi tạm.

Trước một cung đường, lộ trình mới, ngôi nhà, đồ vật sẽ lui lại phía sau. Theo thời gian, nó dần nhòa đi trong quá khứ mênh mang. Nhưng nếu có hy vọng, kỳ vọng hay đức tin tươi sáng về tương lai thì những kỷ niệm, hoài niệm, ký ức sẽ còn theo TA đi tiếp một chặng rất dài nữa… Đó đâu phải là sự đứt đoạn, chia lìa hay mất đi. Đó là một sự tiếp nối, chuyển giao, đón nhận rồi hội nhập vào cảnh giới vô định đang nồng nhiệt chờ đón phía trước.
Hình thức đồ vật, vỏ xác vật chất của không gian sống cũ có thể thay đổi bởi chủ sở dụng, sử hữu nhưng vết dấu, trọng lượng, sức nặng và sự lan tỏa của ký ức, những giá trị tiềm ẩn của cảm xúc, tri thức sẽ làm cho tương lai, bến đỗ sắp tới trở nên đẹp đẽ, đáng sống hơn rất nhiều, rất nhiều lần.
Và trong một thời khắc tạm biệt, tạ từ, không kể ngắn dài, lâu mau, mỗi đồ vật dù chỉ là một chiếc gương, tủ sách, bức tranh, góc sân, tán lá, hương hoa hay chùm quả ngọt thơm đều thì thầm nhắc lại những gì đã khiến chúng ta, con người, đồ vật và ngôi nhà gắn quyện với nhau trong biết bao thang bậc cảm xúc vui buồn.

Và dưới đây là những lá thư ngắn, chút tâm tình của người viết dành cho những tri kỷ, tri âm. Có thể tạm gọi là những giao kết chuyển giao giữa quá khứ và tương lai, những khế ước tinh thần của con người với thời gian và không gian!
3 (1)

Người nữ Bích Câu

Tôi không phải là Tú Uyên, nho sinh Thăng Long tài hoa trong Bích Câu kỳ ngộ của Đoàn Thị Điểm.

Tôi tự thấy mình giống như phố Bích Câu, quận Đống Đa, HANOI thời hỗn mang. Nó sừng sộ, bặm trợn, tan nát, xấu xí.

Ngày nay, không còn tìm thấy chút dấu tích nào của một dòng suối thần kỳ từng chảy qua những miền tiên cảnh với nhấp nhô tưởng tượng, điệp trùng huyền thoại, dạt dào yêu đương. Nào đâu nơi người xưa từng mơ tìm, gặp và sống với người trong … mộng.

Nhưng với tôi, người nữ trong bức tranh mà bạn sắp đón nhận thực sự là Giáng Vân, là gương soi, là động Từ Thức, một câu chuyện có hậu.

Ngày chưa xa đó, mỗi khi sân hận, sau hồi điên loạn, lắm lúc ê chề, tôi thường trở về, dừng lại, len lén chào hỏi, lặng lẽ chiêm ngắm, rồi trò chuyện, đối thoại với Người nữ Bích Câu.

Nàng thì thầm những tiếng bình an để giúp tôi tịnh tâm. Có lúc nàng hơi trách móc, giận hờn.

Tôi không nhớ rõ đã mua bức tranh này như thế nào. Chỉ nhớ những ngày ăn nhờ, ngủ vạ nhà họa sỹ trong ngõ nhỏ hẹp. Căn nhà thấp, cũ, nhiều lối đi như mê cung, cổ vật nhiều hơn đàn bà.

Ánh mắt Người nữ Bích Câu thoạt nhìn tưởng là ngơ ngác trôi rơi vào miền vô cực. Vậy mà tôi đi đâu nàng cũng lem lém dõi theo. Đôi môi khép, ửng lộ màu son như muốn nói điều gì. Dáng tay ấy không xa buông hờ hững mà chẳng có nhu cầu động chạm, ôm ấp, gần gũi…

Nhiều năm sau này, qua rất nhiều biến cố, người nữ, đàn bà yêu mới lại tái hiện trong tranh của họa sỹ. Có rất nhiều bức được thoát thai, tái sinh cùng những bột màu rừng rực, quằn quại, gào thét, hoan hứng yêu đương…

Nhưng chỉ còn duy nhất một chân dung Người nữ Bích Câu là thản nhiên trước mọi biến đổi.

Nàng biết mình đã là một dấu mốc, giới tuyến mà dường như chính họa sỹ không muốn hoặc không thể trở lại. Hơn thế, nàng là một nửa, một chân dung khác biệt, luôn thường trú, gắn bó trong tôi!

1 (1)

Gương nhân quả

Lịch sử soi chiếu lại chính mình có thể bắt đầu từ khi con người rón rén bước xuống sông, hồ, ao để xách, múc, tát, tưới nước.

Từ di chỉ khảo cổ ở Phụ Hào, người Trung Hoa đã làm ra gương đồng hình cầu từ hơn 4000 năm. Gương kính có thể xuất hiện sớm nhất ở Leabanon hồi thế kỷ thứ nhất. Hơn trăm năm sau, ở Trung Hoa, thầy Trang Tử ghi lại trong “Đức sung phù” hướng dẫn người đời: “Người ta không soi vào dòng nước chảy mà soi vào nước phẳng lặng”

Anh đã đi qua phòng tắm của Dương Quý Phi ở cố đo tây An của người Trung Hoa, phòng Gương của Hoàng gia Áo hay khuê phòng của Nữ hoàng Anh… Gương tròn thì nhỏ. Gương lớn thì vuông, chữ nhật hoặc bầu dục… Gương Nouveau thì cầu kỳ đến phù phiếm. Gương Celtics đẹp mê hồn nhưng trang trí trừu tượng, bí ẩn như người cổ từng vẽ trên đá cách nay hơn 3000 năm. Chưa từng thấy gương nào lại Phồn Hoa như tác phẩm này.

Gương có hình tròn. Giới trí thức phương Tây cổ xưa cho đó là biểu tượng bầu trời, chu kỳ của vũ trụ, sự toàn hảo của thế giới tinh thần vô hình và siêu nghiệm…

Gương có trang trí hoa dây. Nếu ai nghiền lịch sử design sẽ tưởng tượng và có hình dung khác về những vòng ngọc khổng lồ thời Thương, Chu hay Chiến Quốc. Lớp lớp cánh lá, dồn nén, quấn quyện, không dứt đoạn, khác nào văn sấm, quyên vân. Tạo hình chặt chẽ như trang trí kỷ hà. Hoa lá đó mà biến ảo như long phượng. Trên nền son thắm, son nhì, cúc đại đóa hay mẫu đơn thì cũng ngọt ngào gửi đi lời chúc “Mãn đường hồng” hạnh phúc, may mắn tràn đầy…

Như mọi cô bé, cô gái, em cũng biết đến gương thần và nàng Bạch Tuyết của anh em nhà Grim. Nhưng ít ai biết, gương như có một thế phận mới khi Võ Tắc Thiên-Người đàn bà đẹp Trung Hoa, tự tạo tác ra chữ CHIẾU để gương kính không phạm húy, nàng cũng lấy tên đó đặt riêng cho mình.

Hôm tôi mang gương đến, em vừa đi Yên Tử về.

Tự soi chiếu, quán chiếu, tôi thấy thật rõ cái cách mà chúng ta luôn hiện thân, biểu hình. Người ta chỉ thấy mình khi soi gương. Gương không tì vết thì in ghi cả Sắc và Không.
Chỉ muốn nói với em gái, rằng: Người ta sẽ dần nhận ra và quả đắc khi luôn tự soi chiếu, điều chỉnh, đổi thay. Sống đời, yêu thương, làm việc, thụ hưởng thì nên biết đủ, đắc ý rồi thì nên dừng.

Người xưa dạy: “Thủ phận an mệnh, thuận thời thính thiên”. Biết vâng lệnh Trời, xuôi theo Thời, giữ Phận, yên Mệnh.
Nếu được thế, Gương là Tịnh Độ, Niết Bàn. Cẩn trọng soi chiếu là độ trì chính mình để đạt tới một cảnh giới khác sáng trong.

1 (5)

Tủ sách của Đại quan Tế Tửu và quý nhân!

20 năm trước, vô tình có được quý vật của người từng dạy ba đời vua nhà Nguyễn.

Về DUYÊN, nhớ ca dao xưa có câu: ” Cái lá sen rủ, cái củ sen chìm, Bao nhiêu quý vật đi tìm quý nhân “.

Tự hỏi, mình đâu phải quý tử con nhà quyền thế, không học hành tử tế như quý sỹ, không cao sang như những bậc quý nhân?

Nay, vì có nhu cầu chuyển đổi nơi ở, tôi không bán mua mà chỉ muốn chuyển nhượng quý vật. Người thích rất nhiều. Người có tiền không ít. Vậy mà vẫn thực sự lo lắng. Biết tìm đâu cho thấy quý nhân?

Nhớ khi xưa La Ẩn từng xuống thơ vỗ về:

“Mộng lý cựu hành xứ,

Nhãn tiền tân quý nhân.

Tưởng như chỉ còn gặp nhau trong mộng,

Nay trước mắt là một người như ý nguyện.”

Và một buổi trưa nóng oi ả, bạn đã tìm đến nhà. Bạn là Luật sư, doanh nhân trẻ. Gia thế khác thường “Tiên tế gia phong, hữu đạo đức giả, Đạo cao đức trọng. Tự toàn kỳ đạo. Tử hiếu tôn từ, Nhân nhân ái lạc…”. Bản thân bạn thì “Bần nhi cần học, Trưởng tắc thi hành. Chính tâm tu thân, Khả di lập thân. Lập thân, hành đạo, Quả ngôn cẩn hậu, Rõ tiếng hậu lai….”

Bạn thích đồ ta, bỏ đồ tàu. Bạn rất cẩn trọng dõi theo những màu men gốm từ Lý chuyển sang Trần. Bạn có sở hữu những món gốm  Chu Đậu mộc mạc đến độ sang trọng… Bạn kính Phó vương Hoàng Cao Khải, nể trọng Tổng đốc Hoàng Trọng Phu. Bạn cất công sang Pháp để mua lại đôi ghế của gia đình Phó Vương. Bạn luận rất hay về tên một người bạn chung, về lẽ cương- nhu. Bạn không quá buồn khi gia thế lụn bại thảm hại sau bao biến đổi thê thảm của thời cuộc. Bạn phẩm cực chuẩn về một tác giả trừu tượng đắt giá nhất hiện nay. Bạn bình rất chính xác về bức mưa hiếm hoi của một họa sỹ ấn tượng.

Chuyển giao món đồ quý cho bạn thực là quý nhân tầm quý vật?

Tiễn cụ tủ mà thấy xao xuyến quá. Chỉ muốn gửi đến chủ nhân mới vài điều mà cổ nhân luận về sách, sự học.

Khi xưa Hoàng Sơn Cốc, bạn của Tô Đông Pha, từng nổi tiếng nhân gian khi luận về tiền kiếp. Danh sĩ từng nói rằng: “Sĩ phu ba ngày không đọc sách thì soi gương mặt mũi đáng ghét, nói chuyện nhạt nhẽo khó nghe”.

Thiên Khuyến học, vua Nhân Tông nhà Tống từng viết:

“Thư trung tự hữu thiên chung túc.

Thư trung tự hữu hoàng kim ốc.

Thư trung hữu họa nhan như ngọc

Nam nhi dục toại bình sinh chí,
Ngũ kinh khuyến hướng song tiền độc.”

Trong sách tự có ngàn chung thóc.

Trong sách tự có lầu son gác tía

Trong sách có người nữ đẹp như ngọc quý

Nam nhi muốn thỏa chí bình sinh,

Tứ thư, Ngũ kinh nên chuyên cần đọc

Trên núi Phượng Hoàng, Hải Dương, Tư nghiệp Quốc Tử Giám, tiều ẩn, người thầy của muôn đời Chu Văn An từng nhắc lời Trình Di:

“Thiên kim di tử,

Bất như nhất kinh.

Ngàn vàng để lại cho con,

Chẳng bằng một quyển sách.”

Còn ai xứng đáng hơn bạn để gìn giữ một kỷ vật quý của một quan đại thần, một trí thức lớn của một làng khoa bảng tiêu biểu bậc nhất Bắc Kỳ?

 

0 (1)

Góc sân thượng chỉ có cỏ cây làm bạn.

Đồ gỗ phỏng theo thiết kế thời nhà Minh thế kỷ 14.

 

 

Tranh Hà Nội phố theo trường phái Ấn tượng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ljubljana… xanh.

Ljubljana, for you all hearts are burning, The sun, moon and all the stars,

Listen, can’t you hear what they are saying? Ljubljana is green.

From bird to bird

The news is spreading,

Ljubljana khiến cho trái tim chúng ta, mặt trời, mặt trăng và tất cả các ngôi sao bùng cháy, rực sáng

Hãy lắng tiếng, bạn có thể nghe thấy đàn chim đang véo von?

Chúng loan tin cho nhau: chip chip chip … Ljubljana … xanh!

(Lời ca trong một bài hát của Dàn hợp xướng trường tiểu học Poljane Ljubljana- nhạc trưởng: Lucija Tozon)

6 (1)

Tôi chỉ dự định đến Ljubljana để quan sát một THỦ ĐÔ XANH của châu Âu.
1 (1)
Thủ đô của Slovenia một ngày mưa. Núi cao, pháo đài cổ trầm mặc. Dòng sông nhỏ Ljubljanica và những con thuyền êm trôi. Sâu dưới lòng đất, những bánh xe bằng gỗ cổ nhất trên thế giới như không ngừng xoay chuyển. Nhà thờ Truyền Tin khắc khảm lời Kinh ngợi ca ân sủng của Mẹ Maria. Những cây cầu như những viên đá lớn vắt qua dòng thời gian. Dưới những hàng cổ thụ, điêu khắc Adam và Eva của Jakov Brdar. Sau khi nếm trái Tri thức Thiện và Ác, bị trục xuất khỏi thiên đường. Họ xiêu vẹo, biến dạng như những dáng gỗ lũa dị dạng di động. Họ thảng thốt, âu lo, mặc cảm, đang cố thoát bỏ tội tổ tông và vội vã lao vào vô định. Dưới chân bức tượng đồng lớn của France Prešeren có bức phù điêu nhỏ mô tả Nhà thơ cổ điển vỹ đại nhất Slovenia đang cúi đầu, lặng thinh, đau khổ. Ông không dám ngắm nhìn Julija- tình yêu, nàng thơ của mình đang hạnh phúc trong vòng tay của người khác. Gần đó, có con Thiềm Thừ đang bình thản ngậm giữ, trân quý những chiếc khóa tình yêu.…

Hình như Ljubljana còn có nhiều điều muốn nói hơn một danh xưng mới hay tước hiệu trân quý. Hơn mười năm qua,người dân nơi đây đã nỗ lực, tận tâm cống hiến chỉ để bớt đi chút tiếng động ồn ào, gìn giữ cho từng giọt nước trong sạch hơn, bầu không khí thơm mùi thanh khiết, …

3 (1)       3 (4)       3 (2)

 

Tôi ngẩn ngơ ngắm dòng suối người từ khắp thế giới về đây, ngược lên núi cao để thăm pháo đài cổ. Từ một điểm cao nhất ở trung tâm thủ đô Slovenia, họ muốn ngược dòng lịch sử đầy biến động dữ dội, để tìm cho mình một cảm xúc, một định nghĩa bình yên rồi tận mắt nhìn thấy xa hơn, rõ hơn những biến đổi kỳ diệu của thành phố nhỏ bé này.

Tôi tin rằng rất nhiều người trong số họ còn đi tiếp đến bờ sông Sava, đi bộ trên con đường mòn thật dài và hoang sơ. Sẽ có không ít người đến bên hồ Koseze để thiền tịnh và quán tưởng, trực cảm, thụ hưởng một cảnh giới thiên đường mà mình từng háo hức, mơ ước. Và từng đoàn người nối nhau đạp xe quanh con đường hình trái tim trên núi cao Šmarna gora của KTS danh tiếng Plečnik, người từng đã xây dựng nhiều cây cầu, bờ kè, quảng trường, tượng đài và những tòa nhà hoành tráng của thành phố.

Cảm xúc đó khiến tôi tạm quên những bảng liệt kê thật dài về những việc mà người dân Ljubljana đã tỉ mỉ, kiên nhẫn và đồng lòng kiến tạo. Nếu có nhiều thời gian hơn, tôi sẽ ghi nhớ những cách mà các bà nội trợ phân biệt màu của những thùng phân loại các loại rác thải; cách cài đặt chế độ cho tủ lạnh , tủ đá cho tiết kiệm điện nhất; cách họ thiết kế, tự tạo ra một kiểu túi đi chợ, mua sắm mà không dùng đến vật liệu nhựa dù là tái chế.

Tôi cũng không dành nhiều thời gian bận tâm đến những phát biểu hùng hồn và đầy sức thuyết phục của những nhà lãnh đạo hay các diễn đàn có sự tham gia của hàng trăm chuyên gia từ các lĩnh vực nước, chất thải, hiệu quả năng lượng, biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học, khu vực xanh và chất lượng không khí cùng khẩu hiệu “Trách nhiệm hôm nay – Sự bình đẳng với các thế hệ tương lai”.

Nếu có cơ hội tôi sẽ quan sát thật kỹ lưỡng các sinh viên Khoa Kiến trúc thiết kế đô thị tổ ong, thùng rác thông minh có thể nén rác, nhà máy sản xuất điện từ vi khuẩn; làn sạc không dây cho xe điện, thiết bị thu gom, làm sạch nước mưa bằng đèn UV và pin mặt trời để tự cung cấp năng lượng cho đèn…

Tôi sẽ tìm đến Tiến sĩ Bavcon trường đại học Ljubljana một nhà nghiên cứu nổi tiếng, người ủng hộ việc thúc đẩy và bảo vệ hệ thực vật bản địa. Bavcon chọn các loài thực vật điển hình của vùng núi đá Karst để trồng ở những bức tường phía nam, nơi tiếp xúc nhiều hơn với ánh nắng mặt trời, những loài chịu hạn, thiếu nước, không cần chăm sóc quá nhiều, đưa Hoa lồng đèn và thu hải đường trồng ở phía đông và phía bắc. Hoa cẩm chướng cũng đẹp hơn ở những nơi ít nắng hơn. Trồng 24 loại cây khác nhau trên bức tường xanh của điểm đến. Tại Riko, Bavcon tích cực theo đuổi các khái niệm bền vững cả trong các hoạt động kỹ thuật của chúng tôi và trong mô hình xây dựng tiền chế bằng gỗ.

 

1 (6)

Tôi sẽ tìm Tina Zdjelar, người yêu thích khái niệm Smooth- an nhiên và thúc đẩy lối sống lành mạnh. Tina Zdjelar cảm nhận chắc chắn rằng buổi tối và đêm trên đồi Polhov Gradec hoặc Šmarna Gora an toàn hơn so với những con đường được chiếu sáng ở trung tâm. Thật dễ thương khi Tina Zdjelar từng viết:
“ Cái gì trong bụi rậm vậy? Một cành cây đã gãy? Một con nai hoang nhảy ra? Một con sơn dương tức giận đá chúng tôi vì đã làm phiền giấc ngủ của nó?

Ánh sáng làm dịu đi và tạo ra ảo ảnh của cái trực cảm, nhưng bóng tối phát tán sự thiếu hiểu biết này. Nó gây ra một làn sóng sợ hãi phi lý mà chúng ta không biết phải đối mặt như thế nào. Trong rừng, nơi bóng tối thay đổi cây cối thành những hình ảnh kỳ lạ của một số loại sinh vật thần thoại, những cành cây rên rỉ, than khóc và những tiếng động trong bụi rậm khiến trí tưởng tượng trở nên điên cuồng.

Bạn có sợ bóng tối không? Bạn có dám đi vào rừng trong bóng tối! khi nỗi sợ hãi của bạn được phủ một tấm chăn và ngủ vùi, cuối cùng bạn cũng thấy khu rừng trong bóng tối rất đẹp, yên tĩnh, vắng vẻ.

Trên đỉnh đồi Polhov Gradec, bạn vẫn có thể nằm dài trên những bức tường dày bao quanh nhà thờ St Lovrenc xinh xắn và ngắm nhìn những ngôi sao nhấp nháy hay ánh đèn của Ljubljana. Hoặc gặp đêm rằm, trăng tỏa sáng tưởng chừng bầu trời bị cắt làm đôi. Hoàng hôn đỏ cam chìm dần.”

3 (3)

Tôi sẽ theo chân Mateja Gruden đến hồ Koseze.

Nữ nhà báo, biên tập viên này thích tập thể dục, chào đón mặt trời, hít thở không khí trong lành, thở sâu hơn, để làn da trần chạm vào và tận hưởng năng lượng thực sự của trái đất.

Mateja Gruden từng chia sẻ: Hít thở bên ngoài bốn bức tường mang đến cho chúng ta các chiều không gian khác. Khi hít ngửi thấy thiên nhiên thuần khiết, chúng ta thực sự thở đúng nghĩa. Không khí trong rừng, trên một ngọn đồi, bên hồ, trong một đồng cỏ hoặc cánh đồng chứa sức mạnh đặc biệt mạnh mẽ, thậm chí là chữa lành bệnh. Khi đứng như một cái cây, chúng ta xoay uốn sống lưng như một con mèo. Khi chúng ta trải nghiệm sự chuyển dịch của mặt trời, chúng ta thức dậy, hài hòa, vượt thời gian và kết nối với vũ trụ. Và Ljubljana xanh cung cấp cho chúng ta tất cả điều này. Chúng tôi chào mặt trời trên đỉnh núi Šmarna gora hoặc nói lời tạm biệt với nó trên mặt hồ Koseze. Hãy thở ở Ljubljana.”

6 (2)

Trong nhiều năm qua, Ljubljana có lắp đặt những thiết bị quan trắc … màu trời, đo những biến động của nước, không khí, tiếng ồn…. Nhưng có thiết bị nào có thể đo chính xác hơn tiêu chuẩn, chất lượng THỦ ĐÔ XANH bằng những trải nghiệm, những cảm xúc của mỗi chủ nhân thành phố?

 

6 (3)

12.089 thành viên của Đại gia đình Ljubljana là linh hồn của Thủ đô xanh. 37.000 trẻ em từ các trường tiểu học, mẫu giáo 13 trường trung học và đại học hợp tác tham gia dự án. Hơn 100 dự án Thủ đô xanh được thực hiện trong năm 2016. 1.304.861 lưu trú ở Ljubljana năm 2016, tăng 12% so với 2015.

 

542 m2 diện tích cây xanh công cộng trên mỗi người dân ở Ljubljana

90 ha diện tích xanh dành cho thể thao và giải trí được xã hội hóa.

300 m là khoảng cách đến một khu vực màu xanh lá cây công cộng cho hầu hết các khu dân cư

Hơn 12.000 cây được trồng bởi các thành viên của Đại gia đình Ljubljana

10.000 Động vật lưỡng cư được vận chuyển trên đường hàng năm bởi các tình nguyện viên, nhà bảo tồn thiên nhiên và chính quyền thành phố

Bảo tồn 161 loài chim, trong đó 86 loài nằm trong Danh sách đỏ các loài có nguy cơ tuyệt chủng

20% diện tích đất tự nhiên được bảo vệ

 

2.183 phương tiện giao thông trong Cơ quan hành chính thành phố và các công ty đại chúng của Thành phố thân thiện với môi trường. 95,048 chỗ đậu xe trong 5 công viên

1.200.000 người dùng đã đăng ký hệ thống BicikeLJ, đã sử dụng Kavalir- xe điện miễn phí trong trung tâm thành phố.

100.000 m2 dành riêng cho người đi bộ và người đi xe đạp trong Trung tâm thành phố

Hơn một phần ba phương tiện thân thiện với môi trường, trong đó hơn một nửa sử dụng CNG (khí nén tự nhiên- compressed natural gas).

Ljubljana đứng thứ 8 sau Copenhagen, tiếp theo là Utrecht và Amsterdam trong 20 thành phố trong136 thành phố được đánh giá được xếp hạng thành phố thân thiện với xe đạp nhất

 

74% căn hộ được sưởi ấm bởi hệ thống sưởi ấm và hệ thống cung cấp khí đốt tự nhiên của quận

 

Châu Âu bị quá tải tiếng ồn vào ban đêm (hơn 65 decibel). Các biện pháp xanh ở Ljubljana đã giảm 14%

Tỷ lệ người không hài lòng với chất lượng không khí dao động từ 22 đến 88%. Tỷ lệ của những người hài lòng với mức độ tiếng ồn là từ 31 đến 82%. Bucharest và Sofia bày tỏ sự hài lòng ít nhất. Ít nhất ba phần tư cư dân thủ đô châu Âu rất hài lòng với chất lượng không khí ở Dublin, Vienna và Helsinki (88%), Luxembourg (83%), Stockholm (77%), Ljubljana (76%)

(Tư liệu của Eurostat 2016)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cẩu giản và…

 

 

Cẩu nên chưa giản?

1 (1)

                       1 (3)     1 (2)

 

Mạo danh Minimalism? (6- 2019)

 

Gần đây, trên báo có nhiều bài viết tán thưởng, ngợi ca những căn hộ, kiến trúc, thiết kế nội thất theo phong cách tối giản ở Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Sài Gòn…
Ngoài ngôn từ, theo những bức ảnh đi kèm, minh họa, thật khó nhận thấy từ các công trình này tinh thần tiết chế, ý thức buông bỏ, thái độ xa dời những tham muốn vật chất và các nỗ lực hướng đến một cuộc sống có ý nghĩa hơn. Chỉ thấy từ những căn hộ… cao cấp một không gian trống rỗng, nghèo nàn, buồn tẻ. Vách kính dựng lên vô cớ. Không gian học của con nhỏ hơn mức cần thiết, sách vở, đồ dùng để tùy tiện dưới sàn. Bữa cơm của gia đình tuềnh toàng, mâm để xuống sàn, mọi người ngồi bệt trong một tư thế vẹo vọ chẳng khác những người nông dân thời bao cấp nghèo khó …

Tuy nhiên, ý thích, cách sống của mỗi người, lựa chọn của một gia đình là chuyện riêng tư, không nên lạm bàn. Chỉ tiếc, người viết, các tòa soạn và kiến trúc sư thiết kế đã hiểu, diễn đạt sai lạc những nguyên tắc, quan niệm Minimalism của phương Tây hay tinh thần tối giản tuyệt hay của phương Đông?

Về cách sống này, người xưa bình và phẩm là: “cẩu giản”. Trong những ngữ cảnh cụ thể,  “Cẩu” không chỉ là ẩu, cẩu thả, bừa, tuỳ tiện, tạm, tạm bợ, làm lấy được, không có ý lo tới chỗ lâu dài, tầm nhìn xa rộng, nhân văn. “Giản” không chỉ là qua loa, sơ sài, thờ ơ, bất cẩn, không thấu đáo.
Albert Einstein từng nói: “Make things as simple as possible but no simpler.” – “Không thể hoàn tất những điều đơn giản bằng sự giản đơn”


Minimalism ?

 

                      2 (2)                              2 (1)a

2 (1)

Vườn sỏi, trà thất, chùa tháp Kyoto, Nhật Bản (1995)

Ở một khu sân golf sang trọng cách HN không xa, dọc con đường đắt giá bậc nhất bên bờ vịnh Hạ Long… thấy không ít những căn hộ được copy, sao chép, mô phỏng biệt thự Savoye của Le Corbusier, Nhà kính ở New Canaan của Philip Johnson, Biệt thự Tugendhat của Ludwig Mies van der Rohe

Ngay trong những cuộc đất đắt tiền, sang trọng, có cảnh quan núi đồi, thảm cỏ, mặt nước, biển đảo, di sản thiên nhiên thế giới, đẹp như mơ, lại thấy những khối hộp vuông chằn chặn. Không khí ô nhiễm, an ninh không tốt nên tường, cửa vây kính. View nhìn mở rộng nhưng lại đóng gói kiến trúc thành hộp kín, thiếu khí tươi và chi phí làm mát thì … không cần tính đếm.  Công trình giấu đi được những hàng cột kết cấu thô cứng thì lại phơi lộ ra những rèm tre chống nắng vụng về và chẳng có được cái tiện ích giản dị, cái thú vui thuần nhã của nhà tre ở quê…

Ở miền nhiệt đới nóng ẩm, chẳng phải vô tình, những tinh hoa Minimalism từng tạo nên diện mạo mới cho kiến trúc hiện đại nhân loại  đã lộ nguyên hình những… “máy ở”. Kiến trúc miền ôn đới từng tương phản, đối lập, phản kháng với những cầu kỳ, xa hoa, kỳ vỹ của các hàng cột Hy- La, vòm cong Gothic, mái vòm Phục Hưng… cơn cớ gì lại trôi giạt về gần xích đạo rồi nghênh ngang,  học đòi, khoe mẽ vô lối …?

Tối giản …!

3 (3)

3 (1)

 Khu tưởng niệm trịnh Công Sơn ở Bình Quới, Sài Gòn (2000)

 

Nếu tạm hiểu là giản lược, giản dị đến hơn nhất, tối ưu, tinh hoa, có thể chữ “Tối giản” không to tát, kinh viện, trừu tượng nhưng nó đa tầng, đa nghĩa, tinh tế và phổ quát hơn Minimalism?

Nhiều năm qua, trong khi văn minh phương Tây đang có xu hướng thắng thế, thời thượng, có thể “Tối giản” đã ngược đường và được chuyển ngữ từ Minimalism. Báo chí, nhiều nhà nghiên cứu và cả giới nghề trên thế giới lại có xu hướng cho rằng Minimalism hình thành, phát triển từ giữa thế kỷ trước ở Âu- Mỹ.

Nhưng, nếu đặt Minimalism trong một tiến trình tiến hóa của kiến trúc và văn minh nhân loại, e rằng niên đại trên chưa chính xác, định nghĩa này tự khu biệt, hạn hẹp và có phần vội vàng, lệch lạc?  Có lẽ các nhà phân tích, lý luận hay truyền thông cần một sự điềm tĩnh, thấu đáo hơn chăng?

4 (3)

 

4 (2)              4 (6)                   4 (5)

4 (1)

Six Senses Ninh Van Bay, Nha Trang (2014)- Tối giản là một hành trình khiêm nhã để kiến trúc và con người trở về, hướng tới gần nhất với thiên nhiên, chạm vào tự nhiên. Từ sau 2005, thật khó tìm thêm một kiến trúc nào vừa hiện đại vừa đậm đà bản sắc hơn thế?

 

Hãy thử ngược dòng lịch sử văn hóa- kiến trúc Nhật Bản. Thử tới những trà thất, những  “Ngôi nhà Không” ở Hoàng cung, để hiểu về một kết cấu, một cấu trúc: Hòa, Kính, Thanh, Tịch. Tới Kyoto để ngắm vườn sỏi, vườn khô. Đến Nara để lưu nhớ về kiếm đạo…

 

Giản đơn, gần gũi hơn, hãy trở về với khu nghỉ đẳng cấp Six Senses Ninh Van Bay, chậm bước quanh khu đền thờ Trịnh Công Sơn ở Bình Quới, Sài Gòn… Có thể hai không gian hiếm hoi này sẽ cho phép người ta chạm nhẹ, nhìn sâu hơn vào một khái niệm Tối Giản Việt. Có thể người ta sẽ dần nhận thấy rõ hơn xuất sứ, dấu mốc, thành tựu, sự lan tỏa những quan niệm rất khác giữa Tối giản và Minimalism.

Thử ngẫm về những đường kẻ thẳng cùng kiệt giản đơn, các mặt phẳng cùng khối màu nguyên và hệ lưới trừu tượng từng ảnh hưởng sâu sắc, toàn diện tới kiến trúc và rất nhiều lĩnh vực khoa học sáng tạo của Mondrian. Họa sỹ lừng danh có chép lại, cóp lại, mô phỏng lại các cấu trúc khung gỗ, trật tự và logic của thảm Tatami trong những ngôi nhà, từ kiến trúc shinden-zukuri dựng trên đất hẹp và nhiều động đất ở nhật Bản cách nay gần 13 thế kỷ?

 

Vào thế kỷ 15, trong khi Filippo Brunelleschi còn đang mải mê với mái vòm bằng gạch khổng lồ bao phủ không gian trung tâm của Nhà thờ Florence để trở thành KTS đầu tiên phát triển kiến ​​trúc Phục Hưng thì những người thợ xây nhà quê ở Nhật Bản đã hoàn tất phong cách Shoin với những tác phẩm tối giản trác tuyệt.

Le Corbusier từng nói: “Khoảng trống, ánh sáng và sự ngăn nắp cần thiết chẳng kém gì cái ăn và một mái nhà với một con người”. Frank Lloyd Wright từng nói: “Hình thức và công năng là một”. Nếu so sánh với triết lý tinh tế, gần như vô ngôn của kiến trúc Trà thất Jo-an, e rằng, các ý tưởng của hai KTS lừng danh, từng được giới nghề trích dẫn rất nhiều này đã muộn hơn 6 thế kỷ và có phần nôm na, vụng về?

Chắc chắn câu nói nổi tiếng Less is more được cho là của Ludwig Mies van der Rohe xuất hiện muộn hơn bốn thế kỷ so với Haiku – những câu thơ không thể ngắn, xúc tích hơn?

Hẳn là Minimalism sẽ còn phải suy ngẫm nhiều về “nhất chiêu tất sát” của kiếm đạo- kendo Nhật Bản.

Có nhìn lại như thế mới tạm thấy Minimalism là một hành trình mà kiến trúc phương Tây nhọc nhằn kế thừa rồi thoát bỏ, đoạn tuyệt với di sản quá lớn của kiến trúc cổ điển. Nó vật vã tìm kiếm một vài nhóm giải pháp nhiều phần kỹ thuật, cố gắng đổi thay, làm cách mạng về không gian, nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất không có điểm dừng của con người, đáp ứng tiện ích, công năng của không gian đô thị đang ngày càng bị nén ép, dần hẫng hụt các giá trị nhân văn.

“Tối Giản” thì khác rất nhiều, đôi chỗ còn ngược đường với  Minimalism. Ngay ban đầu, từ rất sớm, trong những công trình nhỏ bé nhất đến những biểu tượng lớn, “Tối giản” đã mạnh mẽ chối bỏ cái khệnh khạng, lòe loẹt, rườm rà của quyền lực thế tục trong kiến trúc phong kiến Trung Hoa. Nó lặng kẽ tiếp nhận tinh thần vi diệu của Vô Vi trong Đạo Lão. Nó nghiêm cẩn chắt lọc cả những cái buông bỏ, buông xả của Phật giáo. “Tối giản” nắm bắt công cụ Kinh Dịch huyền nhiệm để biểu đạt những giá trị lớn, đa tầng, vi tế hơn mọi vỏ xác kiến trúc.

Tối hậu, lược bỏ công năng, chắt lọc tiện ích, buông xả nhu cầu sở hữu nhiều hơn các giá trị vật chất, để con ngườigiao hòa với đại đạo, kiến trúc hài hòa cùng trời đất, “Tối Giản” tiếp tục tiết chế rồi đồng hành với chỉ một chữ, một con âm, một đại tượng: Zen (Thiền).

 

4

Nhà của lãng tử Quý Đức ( Tam Đảo 7-2008)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xôn xao … cõi Nước?

1 (1)Cò quăm và thiên nga ở Oela

 

Hồ nước như là một vật liệu, định vị, định hướng, kiến tạo hình thái của đô thị, nơi nuôi sống con người, nơi sắp đặt không gian thử nghiệm các giác quan, địa điểm của ký ức, nơi tiếp nhận, cất giấu vẻ đẹp của quá khứ, những thăng trầm của lịch sử, cái nôi văn hóa, tác nhân đánh dấu nền văn minh…?

Bài và ảnh: Hải Sơn- Đăng Lâm-Xuân Bình

 

Trung tuần tháng 6, tiễn con trai lớn đi du học ở thành phố Winter Park, Orlando, Florida, Mỹ, tôi ra đề: Bài tháng 7 này, ba bố con sẽ viết chung, đề tài do các con tự chọn!

Hơn một tuần sau, trong một ngày mà khối bê tông Hà Nội bị nung đỏ, tôi nhận từ các con rất nhiều hình ảnh về những mặt nước, mép hồ, bờ kè, vỉa hè, ghế đá, hàng cây, đàn chim, con đường, công viên, góc phố nổi tiếng nhất của Hà Nội và Winter Park. Những góc nhìn đầy tương phản, ghi chép khác ngược gói ghém bởi thật nhiều cảm xúc vui buồn, hoài nghi, hy vọng, đổ vỡ, thăng hoa …

default

Đường trên cao cắt nát đảo Linh Đàm, mặt hồ, một quỹ đất đẹp, hiếm hoi của HN

Hà Nội, còn đó niềm tin yêu và hy vọng?

Mấy ngày ròng rã, mặc trời nắng như thiêu đốt, cậu học trò đang tuổi yêu vẫn lọ mọ sục tìm từng góc nhỏ nhất ở hồ Linh Đàm, hồ Gươm, hồ Tây…

Trong mắt con trai, hồ Tây bây giờ không còn “Đàn sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời”. Phần lớn con đường có thể trở thành đẹp nhất đất nước này lại không có nổi vỉa hè. Không có điểm dừng lại để thưởng ngoạn một báu vật mà thiên nhiên ban tặng. Đường cho xe ô tô, xe đạp hay người đi bộ bị gom lại, chồng lên nhau, co rúm, bất toàn. Những hàng lan can kiểu trại giam được làm bằng những tuýp thép to, thô kệch.

 

Hồ Gươm không có chỗ cho mọi người có thể chạm nhẹ vào mặt nước. Chẳng còn chỗ cho những câu thơ “ Cao đê vận tống hoành giang điểu”- tạm dịch “tiếng chim lao xao loang trên mặt nước” mà tiền nhân đã treo ở nhà tiền tế đền Ngọc Sơn.

Linh Đàm, quận Hoàng Mai từng gần được là một khu đô thị kiểu mẫu. Trong quá khứ. Về điều kiện tự nhiên, Linh Đàm có nhiều nét tương đồng với Winter Park. Đây cũng là vùng đất trũng, có nhiều sông nhỏ, ao, hồ, đầm và hệ động, thực vật thủy sinh đa dạng. Cậu học trò rất thích hội họa siêu thực của Salvador Dali, Rene Magritte… phải chờ đợi rất lâu mới chộp được một cánh dơi lẻ loi vào ảnh của mình. Cậu học trò lặng đi khi chụp một con ngựa nhựa cũ nát đang ngả đầu đầy cảm thương, ân cần, trìu mến với cô bạn cá nhựa cùng bị con người vứt bỏ ở một góc … công viên tàn tạ. Và bạn ấy ngậm ngùi hơn khi ghi lại hình ảnh những con thiên nga nhựa lềnh phềnh, ngơ ngác, lạc lõng trên cái bóng ngả ngốn của những tòa nhà, bức tường bê tông Mường Thanh…

1 (5)

Công viên Linh Đàm

    2 (8)                                 2 (6)

hồ… Tây?

Sau khi xem những bức ảnh được chụp cách Hà Nội nửa vòng trái đất, cậu học trò viết trên Fb:

“Thật buồn, Winter Park và Linh Đàm lại có những khoảng cách quá lớn về văn hóa, về cách con người ứng xử với tự nhiên, với nơi mình đang sống. Điều gì tạo nên sự khác biệt quá lớn đó?

Cho dù đô thị Linh Đàm đang ngày càng xuống cấp, chỗ nào cũng có thể nhìn thấy những điều phản cảm, nghịch lý và cả những bức xúc. Tuy nhiên, tôi vẫn muốn đến với Linh Đàm từ một góc nhìn khác, góc nhìn của cái đẹp có phần huyền ảo giống như người xưa từng viết và kiến tạo về một vùng đất thờ long thần, thủy thần linh thiêng”

 

Winter Park- công viên 5 mùa

1 (2)

 Diệc ở hồ Oela

Đến thành phố của hồ, có gì vui hơn khi nằm dài trên cỏ, dõi theo một cánh chim trời, lắng nghe tiếng gió hoang, chạm vào nước, hít thở không khí trong lành và nếm thử một trải nghiệm rất khác của mùa thứ năm.

Lần đầu tiên tới Winter Park, quận Cam, Mỹ, chàng sinh viên Việt Nam rất giỏi nấu ăn đã không giấu được cảm giác thảng thốt, ngỡ ngàng khi lần đầu tiên biết thế nào là… CAM, thứ quả hữu cơ ( organic) rực vàng màu nắng, múi, tép mềm hơn, vị ngọt chưa từng thưởng cảm và giá thì rẻ hơn ở VN… 6 lần!

Chính ngọ, nắng gắt, chàng trai tuổi đang lớn, luôn phải nhịn thở rất lâu mỗi khi qua hồ Thanh Nhàn, sông Kim Ngưu, Tô Lịch đã tự cho phép mình lang thang quanh hồ Ocseola, Oela, Virgirna, Mizell, Baldwin…  cũng chỉ để hiểu thế nào là hít thở căng lồng ngực.

Như một thi sỹ, chàng tự hỏi: Sao mùi cỏ nồng trong nắng gắt lại thơm ngọt thế? Sao nước hồ trong vắt? Sao có nhiều cây cổ thụ ven hồ? Sao chẳng thấy xe tưới mà cây rất xanh màu khác lạ? Dưới mép nước có những thảm thực vật như cói, sậy, lau, tùng mà vắng tảo độc, rong gai, bèo tây? Bao nhiêu năm lang thang cùng gia đình khắp mọi nơi chốn VN, sao lần đầu mình mới thấy diệc, cò quăm lang thang cùng thiên nga? Mình có thể ngâm chân dưới hồ sau những cuốc đi bộ dài hơn chục cây?

Chàng sinh viên Hà Nội ham chơi có thể biết cách nay 138 năm, trong khi trốn chạy sự đe dọa của thời tiết mùa đông khắc nghiệt ở miền bắc, Loring Chase, một bệnh nhân viêm phổi mãn tính đã lần tìm về vùng đất cận nhiệt đới để vượt qua bệnh tật hiểm nghèo và lần đầu tiên tạo dựng nên tên gọi, danh tiếng Winter Park.

Đứng trước khách sạn cổ nhất Winter Park, một gã trai nuôi ước vọng đi vòng quanh thế giới chắc đã biết nơi đây vào ngày 1 tháng 1 năm 1883, Chester A. Arthur-  Tổng thống Hoa Kỳ từng hết lời ngợi ca miền đất, thành phố đẹp nhất Trung Mỹ.

Một đầu bếp đầy triển vọng, đặc biệt nhạy cảm về mùi và vị của đồ ăn có thể biết vào năm 1910, vợ chồng John và Mary Hakes đã nhọc nhằn và đầy hứng khởi khi vun trồng cam Florida trở thành một loài cây, một thương hiệu tạo nên lịch sử.

3 (2)               2 (3)

  2 (2)                               2 (4)

Hệ thống cống, xử lý nước mưa ở hồ Ocseola- Hồ Oela- Hồ Baldwin

 

Nhưng có nhiều điều nhỏ bé, ẩn khuất, không dễ nhìn thấy mà cư dân mới của Winter Park rất nên biết. Sau hơn 100 năm, thật đáng nể, bản quy hoạch tổng thể, định hướng phát triển lớn của thành phố gần như không đổi, hay điều chỉnh.

Để có nước hồ trong xanh, sạch, cỏ thơm và công viên, cảnh quan quyến rũ hẳn là một nỗ lực không mệt mỏi của thành phố suốt một thế kỷ qua.
Cuối đường Alexander, phía trước những kiến trúc theo phong cách Địa Trung Hải vùng Tây Ban Nha đẹp sửng sốt, không chỉ là một bùng binh hay là chỗ quay đầu xe trang trọng dành riêng cho một khu đất quá đắt giá. Dưới đất sâu là một bể ngầm, cửa cống lớn, Baffle Boxes, bể xục khí, đập tràn… để chặn lá, rác, bùn, chất thải. Kế đó không xa là trung tâm bơm phèn vào nước mưa để lắng lọc bùn, phân hủy rác. Nước chỉ được chảy vào hồ với độ trong được kiểm soát ngặt nghèo.

Winter Park nằm trên trên đường của các đàn chim di cư từ Đại Tây Dương và Mississippi đến khu vực trú đông Caribbean và Nam Mỹ.  Trên hồ Oela, dễ gặp hình ảnh thật lãng mạn khi nhiều du khách cho thiên nga, diệc, cò quăm ăn. Hãy lưu ý một chút, chính quyền thành phố có cả những khuyến cáo rất rõ ràng rằng: Hãy để chim thú tự kiếm ăn, sinh tồn và cùng con người tham gia thiết lập một hệ sinh thái thân thiện, có kiểm soát. Thức ăn cho chim thú có thể gây ô nhiễm nước hồ.

Trên hồ Ocseola, để có gương nước trong vắt, mở rộng, xa ngút tầm mắt, từ những năm 1960, thành phố từng có những nỗ lực không mệt mỏi để loại bỏ tảo độc, rong gai, bèo tây, chống nguy cơ thực vật thủy sinh ngoại lai phát triển hoang dại, mất kiểm soát sinh khối, biến hồ trở lại thành đầm lầy.

Hồ Baldwin, cao dần từ mặt nước, thảm cỏ thủy sinh, bờ mép, đường đi bộ, cây xanh tiểu cảnh, sân, quảng trường và tòa nhà trung tâm… những phối cảnh đủ sức níu kéo con người ngồi lại, dừng lại để nghi ngơi, thư giãn, vui chơi và suy ngẫm. Con trai đừng quên, năm 1988, mưa lớn, nước lũ không kịp thoát ra lưu vực sông St. Johns, SôngEcllockhatchee, mực nước hồ đã dâng cao hơn 3m. Chiều cao mỗi mặt sân, con đường, hàng cây chính là sự nhắc bảo về những giới hạn an toàn khi bất trắc…

  Lâm thủy

4

 Ánh sáng, chiếu sáng như cách này cũng có thể làm ô nhiễm thị giác. Có còn “một lối dẫn tới tiên cảnh”?

 

Cách nay gần 20 năm, Christian Pe’delahore de Loddis- một KTS người Pháp có bài chuyên khảo sâu sắc “Hà Nội và hình tượng của nước”.
Thật bất ngờ khi KTS đề dẫn những vần thơ ngắn trong tập Lá Cỏ- một trong những sự kiện văn học quan trọng nhất, một cuộc cách mạng trong thi ca đương đại, với sự ra đời của một thể thơ mới – thơ tự do mà Walt Whitman là người khởi xướng:

“Vốn đã hiểu từng tấc đất mỏm đá
Những bông hoa mùa hè
Những vì sao, cơn mưa mùa hè cho tôi niềm cảm phục

Vốn đã lắng nghe trong ánh hoàng hôn tuyệt diệu
Tiếng chim hót trên cành thông tuyết chốn đầm lầy”

Ngầm mách bảo, cảnh báo về việc Hà Nội tàn hủy miền đất “Venice phương Đông”( cảm nhận của một người Ý hồi thế kỷ 14), có phải KTS ý tứ, tế nhị, mượn lời thơ của một người Mỹ, để luận giải về vị thế, tâm thế con người trước những mặt nước, ao hồ, thiên nhiên?

Nhận thức, cảm xúc, hành xử của họ mới chính là chất liệu để xâu chuỗi nước, hồ với tư cách là một vật liệu, định vị, định hướng, kiến tạo hình thái của đô thị, nơi nuôi sống con người, nơi sắp đặt không gian thử nghiệm các giác quan, địa điểm của ký ức, nơi tiếp nhận, cất giấu vẻ đẹp của quá khứ, những thăng trầm của lịch sử, cái nôi văn hóa, tác nhân đánh dấu nền văn minh…?

Đọc lại Walt Whitman , chỉ muốn ngừng viết, ngửa mặt lên trời mà ngâm ngợi và… cầu nguyện:
“Lâm thủy, đăng sơn, nhất lộ tiệm nhập giai cảnh
Tầm nguyên phỏng cổ thử trung vô hạn phong quang”

Tạm dịch:
“Ngắm nước, lên non, một lối dần tới tiên cảnh
Tìm về bản nguyên, cõi ấy sáng tỏ đến vô cùng”

Cùng thời và không xa cái ngày mà Thần Siêu ( Nguyễn Siêu) hay cao nhân nào đó viết mấy câu đối ở Tháp môn, cổng chính đền Ngọc Sơn, David Mizell Jr, người Mỹ đầu tiên đến cắm đất, dựng nhà, xây trang trại trên đầm lầy. Ban đầu họ định danh miền đất mới là Lakeview. Đó cũng là một diễn dịch khác, giản dị, chất phác hơn của “Lâm thủy”.

Để các con có nhiều lựa chọn, niềm tin, hy vọng mỗi khi tới gần, chiêm ngắm, hòa cùng suối sâu, sông dài, hồ rộng, biển lớn rồi “tiệm nhập giai cảnh”, lại xin được mượn lời thơ “Hát cho chính mình” của Walt Whitman. Xin gửi đến cho mọi người và cũng là tự… ru mình vậy!

 

I loafe and invite my soul,

I lean and loafe at my ease observing a spear of summer grass.

My tongue, every atom of my blood, form’d from this soil, this air,

Houses and rooms are full of perfumes—the shelves
are crowded with perfumes,

I breathe the fragrance myself, and know it and like it,

The distillation would intoxicate me also, but I shall
not let it.

The atmosphere is not a perfume, it has no taste of the distillation, it is odorless, It is for my mouth forever, I am in love with it,

 

Tôi thong thả bước đi và ngỏ lời mời gọi linh hồn

Khi chênh vênh nghiêng, tôi bình thản nhận ra những ngọn cỏ mùa hè sắc nhọn.

Tiếng nói, mọi điều sâu kín ẩn trong máu huyết tôi, hình thành từ đất này, từ bầu không khí này

Ngôi nhà tràn đầy hương hoa

Tôi hít thở hương thơm và biết mình yêu thích nó

Khi chưng cất hương thơm trời đất, tôi mê say nhưng sẽ không để nó chế ngự

Bầu không khí không có hương vị, mãi gắn bó theo từng nhịp thở và tôi yêu….

3 (1)

Kiến trúc phong cách Địa Trung Hải vùng Tây Ban Nha ở hồ Ocseola