“Cái vĩ đại và cái lố bịch” ?

                                       4 (4)a

                                    Bữa trưa trên cỏ – Édouard Manet vẽ 1863

Hơn hai chục năm gần đây, khi tiếp cận với nhiều nguồn thông tin khác, được đến tận nơi, sờ chạm vào từng góc phố, lật từng nắp cống, chiêm ngưỡng tận mắt tác phẩm của các nghệ sỹ, KTS, họa sỹ, điêu khắc gia, nhiếp ảnh gia, các nghệ nhân…, tôi dần nhận thấy có gì đó quá khác, rất khác giữa hư cấu văn học, ngôn từ, cảm xúc hay xa hơn nữa là lý tưởng của Hugo với một thực thể Paris luôn tiếp nối, kế thừa đầy đủ và có chọn lọc nhất từ những quá khứ đầy biến động dữ dội.

Tôi thực sự mông lung, ái ngại trước những cảm nhận của V.Hugo khi chính ông là sự “chung đụng” Chủ nghĩa xã hội không tưởng và Chủ nghĩa Dân túy cực đoan? Ông viết:

“Khi nó muốn, Paris có thể ngớ ngẩn được và lúc bấy giờ thì cả vũ trụ cũng ngớ ngẩn theo. Nhưng rồi Pari thức tỉnh, dụi mắt và nói: “Ơ! Sao mình ngu xuẩn thế!” Thật là một điều kỳ dị, khi cái vĩ đại ấy và cái lố bịch ấy chung đụng với nhau. Paris truyền cho cả nhân loại những lý tưởng nhưng những lâu đài đồ sộ nhất của nền văn minh nhân loại cũng chỉ để cho nó giễu cợt và sẵn sàng làm cho những trò nghịch ngợm thành bất diệt.”

Vậy còn những Paris khác thì sao nhỉ?

1 (3)a
 Sau khi V.Hugo viết Những người khốn khổ… 27 năm, Paris 1889 là thế này cơ mà?
Có ai từng nép mình bên cô thôn nữ đang mải mê đọc sách cạnh bờ suối trong lành, rừng sồi trầm mặc mà Jean-Baptiste-Camille Corot vẽ trong “Rừng Fontainebleau” năm 1830? Ai đã một lần ngây nhìn những người nông dân Paris hiền lành, chất phác, tần tảo trên ruộng đồng trong “The Gleaners” mà Jean-François Millet vẽ hồi 1857? Ai đã từng đến bảo tàng Louvre xem The Luncheon on the Grass, Music in the Tuileries của Édouard Manet vẽ 1862, Dance at Le Moulin de la Galette Pierre mà Auguste Renoir vẽ những người lao động Paris đang xõa tưng bừng trên đồi Montmartre ….?

Sau đó chỉ vài trăm năm thôi, chính họ sẽ bàng hoàng trước một thực tại Paris hoàn toàn tương phản, khác ngược, biến dạng và hơn cả… khốn khổ trong Les Misérables.

4 (2)a

                Rừng Fontainebleau (Jean-Baptiste-Camille Corot vẽ 1830)

                                  1200px-Pierre-Auguste_Renoir,_Le_Moulin_de_la_Galette       

Dance at Le Moulin de la Galette Pierre- Auguste Renoir vẽ  1862 cùng thời điểm Hugo ra sách. Montmartre ngày đó là ngoại ô rất xa trung tâm mà … công nhân đã xõa cỡ này cơ mà?

Có lúc, chính Hugo cho rằng tinh thần của Paris nằm ở ngoại ô. Hãy thử xem cái ông phê bình kiến trúc ghê gớm này đã viết gì về đêm Noel 1832, khi Cosette một mình đi lấy nước ở gần sông Chelles:

“Cái khuôn mặt thê thảm của bóng tối như nghiêng xuống đứa bé. Con bé kinh hoàng nhìn sao Mộc to lạ lùng kia. Ngôi sao đang tiến sát đường chân trời, xuyên qua màn đêm dày đặc, trông đỏ đòng đọc. Sương mù nhuốm một màu đỏ ghê rợn làm cho ngôi sao to thêm ra. Giống như một vết loét ngời sáng. Gió lạnh từ đồng thổi vào. Rừng tối om! Không một tiếng lá sột soạt, không một gợn sóng, thứ ánh sáng mờ mờ. Các cành cây to dựng đứng trông gớm chết. Mấy bụi cây gầy guộc, hình thù kỳ quặc đang rít gió ở ven rừng. Đám cỏ cao vút nhung nhúc dưới làn gió thổi, như một đàn lươn. Những cây gai vặn vẹo như những cánh tay dài nghêu có vuốt đang giơ ra bắt mồi; mấy cành khô gió thổi cuốn nhanh qua như kinh hãi chạy trốn cái gì sắp tới. Tứ bề toàn là cảnh mênh mông kinh khủng. Cảnh rừng là cảnh tận thế. Và cái đập cánh của một linh hồn nhỏ bé bỏng dội lên như một tiếng hấp hối dưới vòm lá bao la”

                                         2 (1)   

                          Hotel de Ville năm 1583 – tranh khắc của Hoffbrauer

                                       2 (2)

                    Hotel de Ville năm 1753 của Nicolas-Jean-Baptiste Raguenet 

                                    4 (3)a

                         “Bathers at Asnières” – Georges Seurat vẽ 1884

350px-Georges_Seurat_-_A_Sunday_on_La_Grande_Jatte_--_1884_-_Google_Art_Project

                                         và “A Sunday on La Grande Jatte”

Vào thế kỷ 16, nếu ai từng ngắm nhìn cây cầu Meuniers (1580), The Hotel de Ville (1583) trong tranh khắc của Theodor Josef Hubert Hoffbauer hay sau này là “Một chiều chủ nhật trên đảo La Grande Jatte”, “Bathers at Asnières” của Georges Seurat vẽ năm 1884, thì khó có thể tưởng tượng sau 400 năm, từ cây cầu có tên mới Change- nơi Javert tự tử, dòng sông Seine lại bẩn thỉu, nguy hiểm và ghê rợn đến thế.

 

1 (2)

                            The Palais-Royal -1679 tranh khắc của Adam Pérelle

Vào thế kỷ 17, nếu ai đã từng xem bức tranh cầu Neuf vẽ năm 1660, bức tranh khắc Cung điện Royal mà Adam Pérelle thực hiện năm 1679 như một phần đại cảnh “Rome mới”  của Louis XIV thì không thể lý giải được vì sao những kiến trúc huy hoàng ấy lại biến mất và Paris chỉ là thứ bối cảnh đáng sợ, kinh tởm, hãi hùng mà cha con Jean Valjean và Cosette lẩn quất, trốn chạy khỏi sự truy sát của cả cảnh sát và bọn tội phạm.

Hugo đã viết: “Một phố của Paris nhưng ban đêm ghê rợn hơn là giữa rừng, ban ngày buồn thảm hơn bãi tha ma  Nếu địa ngục là có thật thì Boulevard de l’Hôpital là con đường dẫn đến đó chỗ này không phải là chỗ qua lại dù là ban trưa”

5 (2)a

Renommée des Arts– Nữ thần Nghệ thuật trên trụ cầu Alexandre III- rất gầ chỗ cớm Ravert tự tử?

Paris từng tạo tác điêu khắc “Louis XIV cưỡi ngựa” do François Girardon thực hiện năm 1692, được dựng lên tại quảng trường Place Vendôme vào năm 1699. Tuyệt phẩm Người suy tưởng (một phần của The Gates of Hell – 1880), Nụ hôn 1889 của Rodin … Không thể tin được rằng thành phố thủ đô nghệ thuật của châu Âu lại có thể bày trò mèo với tượng chú voi xấu xí, bệ rạc, nơi mà cậu bé đường phố Gavroche đã biến bụng voi thành ngôi nhà của lũ trẻ bụi đời.

Hugo không ngần ngại giễu nhại:
Mỗi khu ở Pari đều nổi tiếng với những con vật kỳ quái có thể tìm thấy. Có những con “chọc tai” ở những cổng trường Ursulines, có những con cuốn chiếu ở điện Pantheon, có những con nòng nọc ở quảng trường Champs-de-Mars”

5 (1)a

            Người suy tưởng của Rodin- Musée d’Orsay  Paris 

                    3a

Người phụ nữ bị rắn cắn- 1847, đá cẩm thạch, Musée d’Orsay của Jean-Baptiste Auguste Clésinge

Khác hẳn Notre-Dame de Paris, trong Les Misérables, các kiến trúc tôn giáo hoàn toàn mờ nhạt , xám xịt, đen tối. Không thấy đâu   Saint-Germain-des-Prés (990–1160) như một định nghĩa về văn hóa, nơi bảo tồn có chọn lọc những giá trị của văn học phương Tây, một trung tâm tri thức, trí tuệ của TK 10-12. Trong phần gần cuối cuộc đời bi thảm của mình, trong hành trình điên rồ, vô vọng cuối cùng, khi Jean dạt vòm tới phố Little Picpus, những kiến trúc kinh điển như Patheon (1670- 1678 ) của Kiến trúc sư Libéral Bruanth hay Notre-Dame de Paris (1160–1230)  một ví dụ tốt nhất về kiến trúc Gothic cũng không một lần ló dạng, mất dấu, quên lãng.

Hugo từng viết: “tu viện Petit-Picpus, những bức tường xây bằng đá điếc mà kinh thánh nói đến. Chế độ nhà tu là một vấn đề của con người. Khi nói đến những nhà tu, những nơi trú ngụ của lầm lỗi, nhưng cũng là của thơ ngây trong trắng, của sai lạc nhưng cũng là của thiện chí, của ngu dốt, của tinh thần tận tụy hy sinh, của hình phạt nhưng cũng là của tinh thần tử vì đạo. Một nhà tu là một sự mâu thuẫn. Mục đích là cứu vớt, biện pháp lại là hy sinh. Nhà tu là sự ích kỷ tối cao dẫn tới sự nhẫn nhục tối sao. “Thoái vị để trị vì” hình như là châm ngôn của chế độ nhà tu.”

4 (1)a

                                     Nhà thờ thờ Auvers – Van Gogh vẽ 1890

Nếu ai đã chiêm ngắm bức tranh Nhà thờ Auvers và đọc những gì Van Gogh viết cho em gái Wilhelmina thì sẽ nhận thấy sự tương phản ghê gớm giữa cách nhìn, cách cảm của nhà văn và họa sỹ, hai thiên tài:

“Tôi có một bức tranh lớn hơn về nhà thờ làng. Trong đó, có một hiệu ứng rất lạ, nó khiến tòa nhà dường như nổi bật trên nền trời xanh lục mộc mạc, xanh coban thuần khiết; các cửa sổ kính màu xuất hiện dưới dạng các vệt tối, mái nhà có màu tím và một phần màu da cam. Ở phía trước, một số cây xanh nở rộ và cát dường như lấp lánh với dòng ánh nắng màu hồng của mặt trời”                                                     

PhilNGAWorldGames 073

Phố Paris ngày mưa- Rainy Day 1877 của Gustave Caillebotte, một mô tả chính xác những tác phẩm vỹ đại của Kiến trúc sư Georges-Eugène Haussmann

 Nhìn lại suốt một hành trình Les Misérables dằng dặc, thật khó tin là V.Hugo bỏ qua Khải hoàn môn The Arc de Triomphe (1806–36) tuyệt phẩm của Jean-François Chalgrin, kiến trúc thép kỳ vỹ Galerie d’Orleans tại Palais-Royal (1818–29) của Pierre-François-Léonard Fontaine. Bóng dáng Nhà ga xe lửa Paris đầu tiên Gare Saint-Lazare  (1837) chỉ còn đọng lại trong sự khinh thị của tác giả về “con quái vật màu đen”. Những du thuyền đầu tiên trên sông Seine chỉ còn là những con vịt lạch bạch. Hugo giấu biến đi đâu nội thất của một trong những gian hàng bằng kính và sắt khổng lồ của Les Halles , (1853–1870), chợ trung tâm của Paris, do Victor Baltard thiết kế. Chiến lũy lừng danh Rue Saint-Denis (nay là Rue Rambuteau)  đã hô biến, san phẳng con đường đầu tiên xuyên qua trung tâm thời trung cổ, dưới Louis-Philippe. Cả thủ đô hoa lệ gắn liền với chương trình Cải tạo Paris thời Đệ nhị đế chế và quy hoạch vỹ đại của Georges-Eugène Haussmann thì không có một dòng bình phẩm hay phán xét.

3 (1)a                                                    Khải hoàn môn ….

( còn tiếp)

Advertisements

Paris… khốn khổ?

            Nếu Những người khốn khổ- Les Misérables không trở thành tác phẩm văn học vỹ đại của nhân loại, rất có thể V. Hugo đã nổi danh như một người trầm cảm, tự kỷ, nghiệt ngã, cay đắng và kiên định cực đoan, một nhà phê bình kiến trúc ghê gớm nhất mọi thời đại?

Hành trình Jean Valjean

Jean-Valjean-Les-Miserables  valjean  4504214

Từ khi còn rất nhỏ, tôi đã được V. Hugo đưa dẫn đi dọc ngang bến sinh Bri của Jean Valjean đến Faverolles, Toulon, Digne-les-Bains, Pontarlier, Brun, Montfermeil và Paris.

Tôi lang thang trong ngục tối Toulon. Tôi run rẩy cùng Jean lấy cắp đôi đèn nến trong nhà thờ Digne-les-Bains. Như còn vẳng bên tai lời cha xứ, người duy nhất ở làng chấp nhận chứa chấp tội phạm: “Đây không phải nhà của tôi, mà là nhà của chúa Jesus. Nhà này không hỏi khách có tên không, mà chỉ hỏi họ có nỗi đau khổ gì?”

Ở Digne, tôi chứng kiến Jean Valjean trở thành Monsieur Madeleine. Ông chấn hưng một vùng đất bởi nghề làm thủy tinh đen, cứu sống gã đánh xe ngựa đốn mạt, tự ra tòa nhận tội để minh oan cho một Jean Valjean giả, chăm chút rồi vuốt mắt cho một số phận cùng cực bất hạnh Fantine.

                               50a

Grenoble bên sông Isère 1956- Một nơi rất gần Digne-les-Bains khốn khổ của Fantine?

Sau khi vượt ngục lần cuối ở vịnh Brun, tôi bị Jean Valjean và Cosette lôi tuột vào vòng xoáy rợn ngợp Paris. Ngoại ô Montfermeil buồn thảm với quán cơm ti tiện của bọn cùng dân lưu manh đã trùm phủ, bóp nghẹt cái hiệu đồ chơi, thiên đường li ti, lấp lánh của Cosette.

Nhà tu kín góc phố Le Petit-Picpus hiện nguyên hình một nhà tù khác. Nó tạm an toàn với những kẻ bần cùng nhưng lại hiện nguyên hình một ốc đảo, một nhà tù khác với kẻ vượt ngục. Nó tách rời nhu cầu trần thế, với niềm tin về con người, và đẩy đức tin trở nên xa vời.

Austerlitz- cây cầu mang tên một chiến thắng lớn của Pháp biến thành sàn diễn cho hoạt cảnh truy đuổi nghẹt thở của Javert. Nhịp cầu lịch sử thành nơi đối đầu giữa quyền, nhu cầu, khát vọng sống tử tế với pháp luật lạnh lùng, vô cảm; lằn ranh mong manh, nghiệt ngã giữa đạo đức và đạo lý; Khoảng cách khó san lấp giữa tình cảm và lý trí….

Tôi lụt sâu cống ngầm cùng Jean Valjean và Mariuytx mà không hề biết ngay bên trên và rất gần cái địa ngục ghê tởm ấy lại là những Patheon, Khải hoàn môn, Cung Louvre tráng lệ, những Grand Palais, Petit Palais, cầu Alexandre III mà không lâu sau sẽ trở thành những kiến trúc hấp dẫn nhất thủ đô hoa lệ này.

                        1 (1)a

Paris 1375

 

Cũng như rất nhiều người đương thời, có phải tôi bị Les Misérables mê cuốn vì những luận giải quá thuyết phục của Huogo về tận cùng số phận những người khốn khổ?
Đó là một trước tác vỹ đại về một xã hội không tưởng khi Hugo hồn nhiên chỉ ra nguyên nhân mất tự do, sự nghèo đói, bất bình đẳng, đau khổ là bởi đám người giàu có, bóc lột và chế độ tư hữu…?
Ngày đó, tôi thấy hiển nhiên, không chút hoài nghi, ngờ vực nào khi Hugo, một đại diện lừng lững của Chủ nghĩa Dân túy đã thõng tay ném thẳng Jean Valjean vào bể khổ. Ông chép miệng cảm thông với những kiếp người hay lạnh lùng báo trước Les Misérables không phải làmột  chuyện cổ tích:

“Biển cả ở đây là đêm tối cay nghiệt của xã hội, nơi pháp luật vứt bỏ những nạn nhân của mình. Biển cả, đó là sự khốn khổ mênh mông. Linh hồn, trôi dạt trong vực sâu ấy, có thể trở nên một thây ma.”

                        55a 

Paris, một góc Nhà thờ Đức Bà 1889

 

  • Phần 2: Cái vĩ đại và cái lố bịch
  • Phần 3: Những dòng nước ngược?
  • Phần 4: Cống ngầm, Pompidou thì … nổi?

Anh Hồ Ngọc Đại và ” Dám hỗn”?

 

Trong hai clip trả lời phỏng vấn của báo chí, nếu ông Bùi Hiền chê người nói xấu, chửi mình là thiếu hiểu biết thì anh Hồ Ngọc Đại mạnh mẽ hơn mức cần thiết khi coi thường phụ huynh và rất cương quyết khi gạt bỏ họ ra khỏi chương trình dạy chữ cho con trẻ?

41061150_10156936270770934_596714284768034816_n

 

Phản ứng này khác ngược hẳn với những gì anh Đại từng viết công phu trong bài Về khái niệm Nhà trường và đã in trên Tạp chí giáo dục số tháng 8 năm 1982?

Hành xử này có mâu thuẫn, xung đột với những suy tư về Gia Đình mà anh Đại từng nắn nót viết Lịch sử, Quan hệ tính giao, Sự sống gia đình, Đạo đức gia đình, Cơ thể gia đình, Tam giác gia đình anh từng viết trên Tạp chí Xã hội học số 3 năm 1990?

Hành xử này rất hợp với tâm thức Xô cộng khi anh Đại viết về Mác, đăng trên báo Nhân dân chủ nhật 12.9.1992?

Tác phẩm oách nhất, thích nhất của anh Hồ Ngọc Đại sao chỉ dừng lại ở Trường Thực nghiệm HN?

40677362_10156936256765934_4135000633470091264_n

Nhớ lại, những năm 90 và trước đó, khi gặp, tiếp xúc và nhất là khi đọc, chưa hiểu vì sao cứ cảm giác chợt thấy một Lê Duẩn- bố vợ anh, một nhân vật ghê rợn, kinh hoàng với người Việt chập chờn hiện hồn ?

Năm 1993, trả lời phỏng vấn báo Giáo dục và thời đại, anh Đại hùng hồn: “Tôi chịu thua tất cả chỉ để có được công nghệ giáo dục”

Sau từng ấy năm, không nhìn lại cái sai, cũ, tụt hậu trong cách tiếp cận tư tưởng, triết học, văn hóa và cả giáo dục của nhân loại, phũ phàng gạt bỏ đi cái hay nhất ( rất hay) của chính mình, anh hiện hình một Lê Duẩn khác, kẻ luôn muốn thắng … tất cả?

( Dám hỗn là tên một bài báo của anh Đại trên Thế giới mới số 7 năm 1991. Trong khi khích lệ HỖN như những thứ ” liều, vô đạo đức” có tính quy luật nhưng anh Đại lại rối bời khi phủ nhận lịch sử, mắng Nho, ton hót Mác?)

40671527_10156936270865934_291743259967881216_n

Trầm tích Hallstatt

20180501_1457342a

Nhiều người hay dùng mỹ từ “Viên ngọc của nước Áo” để ngợi ca làng cổ Hallstatt. Nhưng vốn thế, Hallstatt đương nhiên lộ thiên, một tinh thể MUỐI lạ lùng, dễ nhìn nhưng khó thấy và luôn thách thức sự khám phá. Hallstatt lớn, lấp lánh và đắt giá hơn những viên ngọc hay kim cương quý nhất? Tiếp tục đọc

Hợp lưu Bálna

 

1 (1)a

 

Theo thời gian, bên dòng Danube tráng lệ, tiếp nối một chuỗi những công trình kỳ vỹ, Cá Voi- Bálna là hợp lưu của nhiều hy vọng- kỳ vọng, cũ và mới, vui- buồn, được- mất… Nó trở thành một điểm đến mới, một kiến trúc biểu tượng ngay cả khi vẫn đang mắc, vướng một vài chuyện hơi long đong, chìm nổi?

 

11a

Danube 2018, Bên sông là con đường mang tên Sứ Thần Tòa Thánh, Đức Tổng Giám Mục Angelo Rotta người Ý và Mục sư Phần lan Sztehlo Gábor.

Trước đó, từ hàng nghìn năm qua, người Hungari bền bỉ xây cất nên những công trình đột khởi trên đồi cao Buda, kết nối, tiếp nhận sinh lực từ Danube và lan tỏa rộng dài sang đồng bằng Pest để kiến tạo một phối cảnh kiến trúc có một không hai trên thế giới.

Đó là Cung điện Hoàng gia, kiến trúc Baroc tuyệt vời, di sản văn hóa nhân loại, được xây cất từ những năm 1700; Nhịp cầu Chain với những vòm cong được tái hiện từ những Khải hoàn môn La Mã, Roma, Paris được xây dựng từ năm 1836; Nhà Quốc hội mang phong cách Gothic Revival, xây năm 1885; Sừng sững Ngư phủ Halászbástya- Fisherman’s Bastion và nhà thờ Matthias theo phong cách Neo- Gothic và Neo-Romanesque, xây năm 1895; Cây cầu Elizabeth, thiết kế tiêu biểu của trào lưu Art Nouveau, xây năm 1899; Tòa thánh Stephen một ví dụ chuẩn mực về phong cách kiến ​​trúc Tân Cổ điển Neo-Classical, hoàn tất năm 1905 …

12

Danube năm1840. Bên kia sông , con đường từng mang tên  Franz Joseph Hoàng đế Áo và Vua Hungary lâu đời nhất nay là đường Jane Haining- nữ tu người Scotland.

Nhưng buồn thay, sau dấu mốc Tòa thánh Stephen này, đã hơn 100 năm, đô thị hiện đại Budapest chưa có nhiều cơ hội tìm kiếm, kiến tạo, vinh danh thêm những công trình biểu tượng cho một thời đại mới?

Giữa thế kỷ 20, kiến trúc Budapest thực sự biến dạng sau khi trải qua WW II- cuộc chiến tàn hủy kinh hoàng nhất mọi thời đại. Năm 1956, tạm ngưng tiếng súng với phát xít Đức, trong vài ngày, khoảng 2700 người dân yêu nước, khát khao tự do, dân chủ của thành phố này lại gục ngã trước tiểu liên, trọng pháo, xe tăng của bọn phát xít không mới Hồng quân Liên xô? Thành phố thêm một lần tàn hoang. Người Budapest từng  câm lặng trước Statue of Liberty- một kiến trúc có  hình khối quá đồ sộ, khống chiếm, áp chế, thô thiển, phô trương? Họ phẫn uất trước một tượng đài lệch hướng, quy hàng, triều phục, lập lờ đánh lận các chuẩn mực, giá trị? Họ sợ hãi một biểu tượng ám thị màu sắc sô vanh ((Chauvinism), kết cấu niềm tin, tự hào dân tộc lỏng lẻo, phối cảnh tinh thần xa lạ? Budapest cũng mong muốn có gì đó dần thay thế những khối hộp tẻ nhạt, nặng nề, quê kệch, ảnh hưởng của kiến trúc kết cấu Xô viết?

Người dân nơi đây từng không hài lòng với Nhà hát mới ở quận Ferencváros và những thay đổi, cách tân dang dở, nửa vời, không vượt thoát bóng đè của quá khứ? Budapest chờ đợi một công trình có ngôn ngữ cởi mở, hiện đại, không phá vỡ trật tự, cấu trúc vốn có, tiếp nhận, kế thừa, hài hòa với di sản truyền thống, tạo nên một không gian mới với chất lượng khác biệt cho đô thị?

3 (2)

Bước sang Thiên niên kỷ mới, hơn lúc nào hết, Budapest khao khát tìm được câu trả lời cho những đòi hỏi, thúc bách của thực tại.

Người dân nơi đây hiểu rằng, trên dòng sông Danube vỹ đại này chưa bao giờ từng là nơi cư trú của cá voi nhưng họ vẫn kỳ vọng Bálna lướt đi, vượt trên sóng nước như một giả định, một ước lệ hay ngụ ngôn về những điều khác thường, phi thường, không có thật và chỉ hiện hữu trong tâm trí, cảm xúc, niềm tin yêu của những ai yêu mến nó.

Budapest mong muốn Bálna cũng có được những hối thúc từ trong sâu thẳm tình cảm cá nhân và cả những quyết đoán, có tầm nhìn rộng lớn để tạo nên hợp lưu Buda và Pest gần giống như cách István Széchenyi– người Hungari vỹ đại nhất đã quyết định xây dựng cây cầu vĩnh cửu đầu tiên trên sông Danube.

Budapest tìm đến những ý tưởng lớn trong thiết kế Bálna một hợp lưu thú vị giữa Bálna, Oosterhuis Kas – một KTS, kỹ sư Hà lan và Ilona Lenard- một Nghệ sỹ thị giác, điêu khắc gia Hungari. Lựa chọn tốt nhất này cũng là cách mà tiền nhân đã từng mời  kỹ sư người Anh William Tierney Clark thiết kế, kỹ sư người Scotland Adam Clark xây dựng cầu Chain.

Budapest kỳ vọng Bálna với kích cỡ khiêm nhường sẽ là hợp lưu của những gì bình dị, gần gũi và nhân văn nhất giống như cách mà họ lấy biểu tượng cho lòng công chính, nhân ái của những con người đến từ khắp mọi nơi, đã từng xả thân cứu giúp hàng chục ngàn người Do Thái ở Budapest thoát nạn diệt chủng để đặt lại tên cho một loạt đường phố đẹp nhất bên bờ Danube.

Budapest đòi hỏi thay vì cung kính, khiêm nhường như đứng trước kiến trúc truyền thống kỳ vỹ, quá khứ hào sảng, ký ức tráng lệ, khi diện kiến một Bálna mới mẻ, trẻ trung, tiện ích, hiện đại, người ta không thấy mình thấp bé đi, được chào đón cởi mở, khoáng đạt hơn.

2 (2)

Hơn ai hết, Oosterhuis Kas và Ilona Lenard- những người chiến thắng phương án thiết kế thấu hiểu Bálna là một áp lực không nhỏ. Bản thân họ không muốn lặp lại những tai nạn, biến cố và trở thành nạn nhân của chính mình như các KTS thiết kế Nhà Quốc Hội hay Tòa thánh Stephen mắc phải. Những người này đã bị mù hoặc chết trước khi công trình hoàn thành. Họ cũng không muốn bị bất kỳ áp lực nào đến độ phải nhảy cầu như điêu khắc gia tạc bốn chú sư tử oai hùng ở cầu Chain.

Oosterhuis Kas và Ilona Lenard nhận thức đầy đủ rằng: Budapest không chỉ cần ở Bálna một không gian đủ tiện ích và sang trọng. Nơi quảng trường nhỏ, nơi tụ hợp cho số đông mà vẫn thanh lịch, tinh tế. Một trung tâm thương mại năng động nhưng vẫn chú trọng khích lệ tinh thần sáng tạo hay các giá trị văn hóa. Bálna – điểm đến cho tương lai, cải biến từ nền di tích cổ, cũ mà vẫn bảo tồn, kế tục và tôn vinh không chỉ các giá trị truyền thống của kiến trúc…

Và họ đã mượn Kiến trúc- Nghệ thuật và Công nghệ như một phương cách mới lạ để kiến tạo nên một công trình, một điêu khắc, một tác phẩm nghệ thuật thị giác hoành tráng mang hình hài một siêu sinh thể cá voi.

Những nỗ lực đó của họ không bất chợt hiện ra. Từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, vật vã hành nghề từ các studio Hà Lan, Pháp, miệt mài nghiên cứu, thử nghiệm trong các trường đại học lớn, Oosterhuis Kas và Ilona Lenard không ngừng theo đuổi, tìm kiếm, sáng tạo những kiến trúc lập trình.

4 (3)

Trong khi những KTS… nổi … tiếng nhất của Việt Nam đang loay hoay mượn bợ cái vỏ ngoài mỏng toẹt của tre trúc, đánh tráo khái niệm kiến trúc xanh để làm hàng, đánh bóng cho thương hiệu rởm của mình thì Oosterhuis Kas và Ilona Lenard đã mau lướt qua những tháp, mặt tiền, cấu trúc mô cơ (Muscle reconfigured, Muscle tower, Muscle body, Muscle facades), cấu trúc tre ( Muscle  bamboostic), kiến trúc tức thời (immediate architecture) để đạt tới mô hình Kiến trúc Mẫn cảm, phi tiêu chuẩn, không gian siêu vật thể ( Hyperbodies architecture).

Với cấu trúc tre, mô cơ mẫn cảm, kết cấu khung nhôm được điều chỉnh trực tiếp, thông minh, Oosterhuis Kas và Ilona Lenard đã có “khắc nhập, khắc xuất” như những khẩu quyết màu nhiệm từ cây tre trăm đốt.

13

Nhà Quốc hội phong cách Gothic Revival, xây năm 1885, vẽ năm 1900

Thấp nhỏ hơn rất nhiều so với giới hạn không vượt qua chiều cao 96 mét của Nhà Quốc hội nhưng Bálna khiến người ta phải trầm trồ, ngước nhìn, ngưỡng mộ khi đã thay đổi và tạo nên một hệ quan niệm, định nghĩa hay giá trị mới cho những định lượng, chiều kích vật lý. Kích cỡ khiêm nhường, nép mình bên di sản của Bálna dường như tiếp nối cái cách mà đạo diễn phim Can Togay và điêu khắc gia Gyula Pauer đã chạm vào những cảm xúc tinh tế, có thể cả lòng trắc ẩn của người Budapest khi họ làm tượng đài Shoes on the Danube Bank- Những chiếc giày trên dòng Danube. Siêu cấu trúc bền vững này cũng giúp người Budapest yên tâm quên đi thảm kịch sụp đổ mái vòm Nhà thờ lớn Stephen hồi 1868.

Ban ngày, dưới ánh sáng mặt trời, với lớp vỏ kính phân mảnh, đa diện, được chiếu sáng tự nhiên tới tầng hầm. Nơi sâu nhất của công trình lúc nào cũng sáng hơn đường hầm xuyên đồi Pháo Đài. Ban đêm, với công nghệ chiếu sáng thông minh, Bálna lấp lánh, hấp dẫn không kém bất kỳ kiến trúc cổ nào khác. Nó đa sắc, tỏa sáng như một viên kim cương khổng lồ.

5 (3)a

Với Bálna, khi xuôi Budapest, lúc ngược dòng văn hóa kiến trúc, người ta sẽ thấy Oosterhuis Kas và Ilona Lenard đã kế thừa một cách hành xử và phát triển những triết lý kiến trúc mà I. M. Pei đã từng tái sinh Bảo tàng Louvre bên bờ sông Seine, Pháp (1989); Norman Foster đã kiến tạo tinh thần mới cho Nhà Quốc hội Đức bên bờ sông Spree ( 1999) hay Jacques Herzog và Pierre de Meuron thay đổi số phận Tate Morden bên bờ sông Thames, London, Anh (2003)…

 

Box 1:
Hyperbodies là phương pháp luận, là giải pháp giúp các kiến trúc và môi trường có thể liên tục thay đổi hình dạng và công năng. Những đột biến của kiến trúc này phụ thuộc vào các dữ liệu đầu vào của người sử dụng cũng như từ môi trường xung quanh. Sự tương tác giữa con người và tòa nhà được xác định bởi những luồng cơ sở dữ liệu mà dự án sử dụng và chuyển đổi thành cấu trúc siêu hình, phi chuẩn mực, mẫn cảm, sau đó làm thay đổi nhận thức của họ về không gian trong và xung quanh kiến trúc. Từ đó, các kiến ​​trúc sư có thể lập trình, xác định đặc tính tương tác cụ thể của tòa nhà.

 

Box 2:
Hai bên bờ sông Danube, thay thế các vị vua, những nhà lãnh đạo chính trị, quân sự kiệt xuất, các đường phố  được đặt theo theo tên của những người từng xả thân cứu hàng trăm nghìn người Do Thái ở Hungari thoát chết bởi nạn diệt chủng của phát xít Đức. Đó là Jane Haining- nữ tu người Scotland; Salkahari- Trinh nữ tử đạo người Cộng Hòa Slovak; Sứ Thần Tòa Thánh, Đức Tổng Giám Mục Angelo Rotta người Ý; Mục sư Phần lan Sztehlo Gábor; Raoul Wallenberg- doanh nhân, nhà ngoại giao và người theo chủ nghĩa nhân đạo người Thụy Điển;  Valderma Langlet- nhà văn , nhà báo , nhà ngôn ngữ học người Thụy Điển; Friedrich Born- Nhà buôn, nhà ngoại giao Thụy sỹ.

 

5 (1)a

Bálna nhìn từ đường Salkahari- trinh nữ tử đạo người Cộng Hòa Slovak.
6a
Cung điện Hoàng gia, kiến trúc Baroc tuyệt vời, di sản văn hóa nhân loại, được xây cất từ những năm 1700. Bên sông là đường mang tên Friedrich Born- Nhà buôn, nhà ngoại giao Thụy sỹ

7a

Nhịp cầu Chain (István Széchenyi) với những vòm cong được tái hiện từ những Khải hoàn môn La Mã, Roma, Paris được xây dựng từ năm 1836

 

9 (1)a

 

9 (2)aTòa thánh Stephen một kiến ​​trúc Tân Cổ điển Neo-Classical, hoàn tất năm 1905

8aNgư phủ Halászbástya- Fisherman’s Bastion và nhà thờ Matthias theo phong cách Neo- Gothic và Neo-Romanesque, xây năm 1895

10aaTượng đài Những chiếc giày trên dòng Danube- Shoes on the Danube Bank của đạo diễn phim Can Togay và điêu khắc gia Gyula Pauer.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Quang phổ Burano

20180424_190209aa

Từng ngày, mỗi dãy nhà, ngõ phố, con đường hay bờ kênh Burano đang sử dụng những gam màu tươi tắn, tương phản mạnh mẽ để vẽ, trang trí, kiến tạo nên một cầu vồng kéo dài mãi tới đường chân trời.

Quang phổ đó phát xạ hoặc hấp thụ ánh sáng nào từ Hệ mặt trời Venice? Đó là hiện tượng phản xạ, lan truyền, đổi hướng từ các dấu ấn văn hóa Ý, là biểu hiện tán xạ, các va chạm mạnh mẽ của môi trường địa- văn hóa Địa Trung Hải?

Từ góc nhìn vật lý, với lăng kính quy hoạch, kiến trúc, thử nhìn lại Burano, một trong những làng biển rực rỡ nhất, đẹp nhất trên thế giới.

a (6)

Nhiễu xạ, những cái bóng và bóng tối?

Nếu muốn tìm kiếm điều gì khác biệt, kinh nghiệm thiết thực cho bản thân, có lẽ người ta buộc phải lẳng lặng bỏ qua hay gạt sang một bên những cái tương phản, bắt mắt, rực rỡ, lấp lánh mà phần lớn là rất mỏng và hời hợt?

Burano, Venice, Italia không giản đơn là tập hợp những tín hiệu màu sắc để cho ngư dân dễ nhìn thấy ngôi nhà của mình trong điều kiện thời tiết không tốt. Đó càng không chỉ là những lời tán tụng, ngợi ca mà người ta có thể tìm đọc được từ quá nhiều những bức ảnh xeo phì , những trang báo quảng bá du lịch dễ dãi.

Burano ấn tượng áp đảo hơn nhiều nhiều lần so với làng bích họa Tam Thanh, Quảng Nam vì ít nhất thì đó không phải là một mặt hàng viện trợ, một dạng ODA nghệ thuật. Burano có thể ẩn chứa trong nó rất nhiều vỉa tầng, quỹ vốn, giá trị nghệ thuật so với những làng chài ven biển Ulsan, Busan của người Hàn Quốc.

Nhưng chỉ chung quanh Địa Trung Hải hay Adriatic thôi, Burano có gì hơn Santorini, Hy Lạp, Chefchaouen, Morocco, Júzcar, Tây Ban Nha, Procida, Cinque Terre những ngôi làng Ý hay chính Murano, Pallestrina, Lido di Venezia, Punta Sabbioni… những hòn đảo nằm trong hệ đầm phá Venice?

Fake photo purporting to show the collapse of the original Campanile in 1902. This picture became famous around the worlda

 

Nếu bình tĩnh nhìn lại, trong một thời gian rất dài, Burano thực sự chỉ núp dưới và bị chi phối bởi cái bóng quá lớn của Venice, của quá khứ.

f -bf- cf

Chân dung Cristina di Lorena, Nữ Công tước Tuscany có trang phục sử dụng ren Burano (1565 – 1637) tranh của Scipione Pulzone (1542-1598)- Chân dung Nữ hoàng Anh Elizabeth I có trang phục sử dụng ren Burano- 1585 ( tranh của: William Segar)

Cách nay hơn 6 thế kỷ, Burano từng nổi tiếng khắp châu Âu vì những sản phẩm thêu ren. Chất liệu đó từng được danh họa, Michelangelo trang trí Nhà nguyện Sistine, Milan. Đó từng là ấn tượng nổi bật, chuẩn mực khác biệt của giới quý tộc, thượng lưu châu Âu…

Nhưng huyền thoại sản phẩm thêu ren được thần biển tái hiện từ bọt nước, những con sóng trắng, trang phục của những nàng tiên cá được mô tả theo một loại rong biển hay loài thủy sinh nào đó đã quá mờ nhạt.

Cái thời mà Nữ hoàng Anh Elizabeth I, Nữ hoàng Pháp, gốc Ý, Catherine de Medici, Vua Louis XIV hay các đại gia Hà Lan sử dụng ren Burano trong các lễ đăng quang, các sự kiện quan trọng từng lưu dấu trong các bức tranh thời Phục Hưng của Rembrandt, van Dyck… đã lui vào quá vãng quá lâu rồi.

1902

Quảng trường St Mark 14-7- 1902

Gần đây hơn, sau Thế chiến thứ hai, Burano ảnh hưởng gì từ Venice bế tắc, khủng hoảng?

Không khỏi giật mình khi tháng 4- 1946, Thị trưởng Giobatta Gianquinto từng gọi Trung tâm Venice là chuồng ngựa bẩn thỉu, thành phố ổ chuột. Năm 1952, – Wladimiro Dorigo-Ủy viên Hội đồng Quy hoạch đô thị thành phố thì ngán ngẩm: Piazza San Marco là “một nhà thổ nhỏ” …

g-a

Burano 1932- Mario Vellani-Marchi 1895–1979

Thực sự thì sắc màu Burano mới chỉ dần rực rỡ hơn từ khoảng những năm 1990.

Dấu ấn đó còn kịp ghi lại trong tranh của François Herr, một họa sĩ và kiến trúc sư người Pháp, của Aleksejs Naumovs họa sỹ Latvia hay tranh trừu tượng của Miljenko Bengez họa sỹ Croatia…

Trước đó, từ những năm 30 đến 80 của thế kỷ trước, sắc màu thực của Burano chỉ có thể là những mảng màu trung tính, mờ nhòe, nhạt nhòa trong những tranh màu nước của Mario Vellani-Marchi …

Có phải vì những góc khuất tối ấy, ngay cả khi từng để lại nhiều dấu ấn ở Venice mà F. Lloy Wringht, Le Corbusier hay KTS, nhiếp ảnh gia nổi loạn như Dionisio Gonzalez… cũng chưa một lần ghé qua ngôi làng Burano không xa Kênh Lớn hay Quảng trường San Marco là mấy?

Mặt trời Venice và lăng kính Burano

Trong tự nhiên, cầu vồng là hiện tượng tán sắc của các ánh sáng từ Mặt Trời khi khúc xạ và phản xạ qua các giọt nước mưa. Theo lý thuyết đó, cầu vồng Burano rực rỡ hôm nay là hào quang Venice được khúc xạ qua một lăng kính đáng nể- một thái độ sống mẫn cảm và ứng xử tinh tế, đầy cảm hứng nghệ thuật của người dân nơi đây?

b (1)

Burano cùng Venice đã làm gì để năm 2016 được xếp hạng là thành phố đẹp nhất thế giới?

Hãy thử ngược dòng thời  gian trở về hơn mười năm hậu chiến, ngay từ thời đó, Venice đã có một chính quyền minh bạch, đủ năng lực để xây dựng các quy chuẩn quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị, tạo nền tảng pháp lý chắc chắn để bảo tồn, phát triển và kiến tạo mới một lõi đô thị lịch sử đặc biệt.

Đó là khi Venice phê chuẩn Luật đặc biệt vào tháng 3 năm 1956, áp dụng một kế hoạch điều tiết chung và quản lý đô thị như là những công cụ mạnh mẽ, thích hợp để điều chỉnh quyền lợi của các nhóm lợi ích riêng, cởi mở hơn với nhu cầu rộng lớn của cộng đồng.

Hàng loạt chương trình phát triển, dự án xây dựng mới đã góp phần giải tỏa những áp lực ngày càng tăng nhanh với khu đô thị trung tâm, tạo nên những sản phẩm du lịch mới mẻ, hiện đại và hấp dẫn du khách hơn.

“Kế hoạch Fanfani” phát triển nhà ở xã hội tạo ra một khu đô thị mới 55.000 mét vuông ở Mestre phía đông bắc của khu đầm phá. Tạo ra một khu phố trên 94 ha cho 35.000 người trên đất liền, để S. Giuliano kết nối tốt hơn với Venice và Mestre. Việc thành lập khu công nghiệp thứ hai của Porto Marghera và hai khu vực cho các ngành công nghiệp vừa và nhỏ . Tháng 4 năm 1958 , tạo ra một khu liên hợp văn phòng trên diện tích 20 ha ở đầu cầu nối giữa Piazzale Roma và Kênh Giudecca, tạo ra những cây cầu bắc qua kênh đào, từ Punta Sabbioni đến đảo Certosa, đưa Venice đến bán đảo Cavallino…
Cùng với việc quản lý chặt chẽ quy hoạch phát triển đô thị, chỉ với riêng các hoạt động nghệ thuật, Venice đã làm tất cả để khám phá lại sức sống, vai trò thủ đô của nghệ thuật và giải trí.

DSC03611aa.jpg

Có những ngày đen tối, các vị thần cũng chỉ biết ngơ ngác nhìn Piazza San Marco và Doge’s palace?

Ngay mùa hè năm 1945, Gallerie dell’Accademia đã khai mạc triển lãm Venetian nguyên bản.

Năm 1946, Venice đã có những cuộc phiêu lưu quan trọng nhất của nghệ thuật Ý hậu chiến . Mở đầu là triển lãm những kiệt tác của bảo tàng Venetian, với 350 tác phẩm được thành phố cất giữ, bảo vệ trong chiến tranh. Tiếp theo là giải thưởng Burano, giải thưởng đầu tiên tại Ý tái khởi động những mùa triển lãm nghệ thuật, với chiến thắng thuộc về của các họa sĩ truyền thống chuyên vẽ cảnh quan đầm phá.

Untitled

Madonna and Child  Giovanni Bellini – Venetian, c. 1430/1435 – 1516 c. 1480/1485- oil on panel

Năm 1947 đã có khoảng 200 cuộc triển lãm tại thành phố. Năm 1949, tại Palazzo Ducale có triển lãm 140 tác phẩm của Giovanni Bellini một họa sĩ thời Phục hưng, có lẽ là người nổi tiếng nhất trong gia đình họa sĩ Venetian.

mural-jackson-pollock.jpg
Mural- Jackson Pollock

Năm 1950, Biennial nghệ thuật thị giác là một chương trình tuyệt vời. Tại Ala Napoleonica (Một trong những di tích lịch sử nổi tiếng nhất thế giới), Peggy Guggenheim đã chuyển giao bộ sưu tập Jackson Pollock của mình cho Venice. Có lẽ đó là triển lãm lớn nhất và đầy đủ nhất từng được thiết lập trong thế giới nghệ thuật hiện đại, nó cung cấp một cái nhìn chưa từng thấy về nghệ thuật tiên phong. Venice trở thành ngã tư quốc tế cho việc đổi mới hội họa.

Vào năm 1951, tại Giardini di Ca’ Rezzonico, triển lãm của Giambattista Tiepolo ” người thợ thủ công, họa sĩ trang trí vĩ đại nhất của châu Âu thế kỷ 18 “…

20180424_195522aa

Ngày 13 tháng 5, nghệ sĩ đương đại, Lorenzo Quinn, đã giới thiệu Support- tác phẩm điêu khắc hoành tráng mới của mình tại Ca ‘Sagredo Hotel, Venice.

Từ những nỗ lực sáng tạo không ngưng nghỉ, Venice nói chung, Burano nói riêng đã có những thay đổi hơn cả mong đợi. Vào năm 1950, đã có 278.875 lượt du khách nước ngoài tới Venice.  Lần đầu tiên, lượng du khách vượt quá dân số địa phương. Sau gần 70 năm, hiện nay, ước tính mỗi năm Venice có từ 22 triệu đến 30 triệu khách du lịch (khoảng 60.000 khách du lịch mỗi ngày).

Đóng góp vào kỳ tích trên, dường như mỗi người dân Burano đã trở thành những nghệ sỹ tài hoa.  Họ đã cách mạng hóa bức tranh Burano, cải hoán, dịch chuyển, thay đổi nó, hướng tới một phong cách gợi cảm và colouristic hơn như Giovanni Bellini đã từng làm trong hội họa Phục hưng. Họ đã vẽ làng thành những tác phẩm biểu hiện trừu tượng đắt giá hơn cả Mondrian, Jackson Pollock, Paul Klee, Barnett Newman, Hans Hofmann… Họ chăm sóc từng mảng tường, ngõ phố, cây cầu, con thuyền hay quảng trường như cách mà Giambattista Tiepolo tạo dựng sản nghiệp. Họ đã sáng tác, biểu diễn và trình diễn ngôi làng của mình hơn cả những gì mà Baldassare Galuppi (1706 – 1785), nhà soạn nhạc nổi tiếng người Burano đã sáng tác những bản Toccata  tự do, phóng khoáng?

 

f - a

Baldassare Galuppi

Hãy dành một chút thời gian dừng lặng trước tượng đài Baldassare Galuppi  ở quảng trường lớn nhất Burano và lắng nghe những chuyển động của màu sắc, những âm thanh của biển, những vọng vang từ quá khứ. Nếu may mắn, với những cảm xúc trên, người ta có thể hiểu rõ hơn về Burano cùng thông điệp thúc đẩy những ham muốn, khao khát hướng tới FREESPACE – không gian tự do của Venice Biennale Architecttura 2018!

 

Đi xa là để về gần. Bài học Burano có gì gần gũi, thết thực với những dự án bất động sản hay thiết kế, trang trí những ngôi làng biển trong hệ đầm phá Thuận An, Cầu Hai, Lăng Cô (Huế), Hội An ( Quảng Nam), Tam Hải, Sa Huỳnh ( Quảng Ngãi), Tam Quan, Lại Giang, Trà Ố, Nước Sạch( Bình Định), Thị Nại, Tuy Phong, Cù Mông, Xuân Đài, Từ Nham, Hòa Thạch (Quy Nhơn), Vân Phong, Ninh Hòa, Cam Ranh ( Nha Trang)…

 

 

 

Bên bờ Hạ Long

 

 

 

e

Bài: Xuân Bình. Ảnh, tư liệu: Hải Sơn

 

Để tìm thấy gì đó khác biệt, nổi bật từ kiến trúc của thành phố Hạ Long, có thể người ta không có nhiều lựa chọn.

Tạm thời, gợi ý tốt nhất là Bảo tàng-Thư viện, Trung tâm Quy hoạch- Triển lãm và hai biệt thự ở Cọc 5. Những kiến trúc mới, hiện đại này nằm bên Trần Quốc Nghiễn- con đường dài và đắt giá nhất Hạ Long hiện nay.

 

Nếu có một quy hoạch đô thị thông minh, thân thiện, bền vững hơn thì những công trình trên đã có thể hội tụ gần đủ điều kiện để trở thành hình ảnh đại diện, biểu tượng cho một Hạ Long, Quảng Ninh mới.

 

Và ấn tượng hơn hai công trình nghìn tỷ rất có thể chỉ là những cây bàng lá nhỏ được ai đó đã bên phía Cọc 5. Nếu nhanh, cũng phải mất hàng chục năm nữa người Hạ Long, Quảng Ninh và người Việt mới hiểu được những lời nhắn nhủ của sinh linh nhỏ bé này?

 

 

Đá- Nước và Mây Trời.
1 (3)
Bảo tàng- Thư viện và Trung tâm Quy hoạch- Triển lãm Quảng Ninh không hẳn là hai công trình độc lập, tách rời. Hai kiến trúc này vượt qua giới hạn hình lạ, ý hay.

 

Từ những cảm nhận, ấn tượng thị giác, với Bảo tàng- Thư viện Quảng Ninh, KTS Salvador Perez Arroyo đã rò tìm, nhận thấy, nắm bắt và biểu đạt được mối liên hệ huyền nhiệm nào đó giữa người Hạ Long, Quảng Ninh với than đá. Đó tạm là một điêu khắc vỹ đại nhất mà lần đầu tiên người Hạ Long, Quảng Ninh vinh danh, tri ân quá trình Cacbon hóa thực vật, kết tạo các vỉa than và trao sức mạnh, quyền lực của “Kỉ nguyên than đá” cho vùng đất này.

 

Đặt kiến trúc trong không gian hai chiều, Salvador Perez Arroyo khiến người ta nhớ đến những mảng màu đắt giá nhất, gây tranh cãi nhất thế kỷ 20 trong các tác phẩm hội họa Trừu tượng biểu hình. Trong không gian ba chiều, Salvador Perez Arroyo đã đẽo gọt, mài giũa kiến trúc này thành những khối vuông, những điêu khắc tối giản.

 

Từ mặt đứng công trình, đường nét, hình khối, phối cảnh kiến trúc mang đến cảm giác rõ rệt về một cấu trúc chặt chẽ, vững vàng mà vẫn thấp thoáng nhịp điệp của rừng đá trên vịnh.

Tường kính đen không chỉ gạn lọc bớt sáng, nắng. Tựa như một tấm gương huyền hoặc, kiến trúc để cho đô thị, không gian, thời gian in bóng, lưu dấu. Nếu quan sát khối vuông phương thuật đó từ một nơi cao xa, rất có thể nó sẽ gợi nhắc người ta so sánh kiến trúc với khối đen Kaaba – “Ngôi nhà của Allah” trong thánh đường Al-Masjid al-Haram ở Mecca. Có phải vì thế mà vỏ ngoài, hình thức dù giản đơn, tiết chế nhưng cũng đủ tích hợp, hàm chứa, lắng lọc cả những trầm tích bí ẩn của thời gian.

1 (2)
Nhưng Salvador Perez Arroyo chỉ thực sự hoàn chỉnh, hoàn tất một quan niệm mới về không gian Bảo tàng- Thư viện Quảng Ninh khi KTS hoàn thiện công trình TT Quy hoạch- triển lãm cách đó không xa.

 

Để tương hợp với hình vuông, khối lập phương của Bảo tàng- Thư viện, Salvador Perez Arroyo đã phác ra một Trung tâm Quy hoạch- Triển lãm như vòng tròn lớn, một mô hình hay biểu tượng của chuyển dịch, biến dịch.

Mượn những nét cong lượn phóng khoáng, cái đa sắc của Trắng- Đỏ- Đen, Salvador Perez Arroyo để các thành tố của công trình dâng cao, trườn xoay, vờn quyện, dừng lặng, lắng lọc, hội tụ, thống nhất rồi tiếp tục lay động, lan tỏa. Trong mắt các nhà địa chất, mặt cắt của công trình này dường như đang biểu đạt một quá trình kiến tạo vỏ trái đất. Với các nhà khảo cổ, đó như những gì mà người Việt cổ từng để lại những dấu vết kỳ lạ trên hang Soi Nhụ, bến Bèo, Vân Đồn… Và trước những đột khởi, sừng sững, uy lực, bất động của Bảo tàng- Thư viện, TT Quy hoạch- triển lãm như thể là một dấu vết hay khúc xạ  mềm mại, biến ảo của sóng, gió và mây trời.

 

c

Từ những ý tưởng lấp lánh hiếm hoi đó, Salvador Perez Arroyo đã hé lộ triết lý thiết kế của mình. Bảo tàng- Thư viện và Trung tâm Quy hoạch- Triển lãm đã hợp thể rồi kiến tạo một không gian lớn rộng hơn kích cỡ vật chất của nó. Kiến trúc kết nối, hòa hợp những giá trị rất khác biệt, đầy tương phản giữa đất và nước, biển và trời, con người và vũ trụ, vuông- tròn, bất định và biến dịch… Đó là duyên cớ mà KTS Salvador Perez Arroyo mượn kiến trúc để nhận biết rõ hơn về Hạ Long, ý thức rõ hơn về một quỹ vốn không gian đặc biệt mà trời đất ban tặng cho con người. Đó cũng là cách mà KTS cắm những dấu mốc rất lớn trong không gian hiện tại. Salvador Perez Arroyo gửi đi một tín hiệu, một niềm hy vọng về sự phát triển và dịch chuyển mạnh mẽ nhưng rất cần thân thiện, hài hòa với thiên nhiên của một Hạ Long trong tương lai.

 

KTS Salvador Perez Arroyo đã dâng tặng Hạ Long, Quảng Ninh một tòa lâu đài nhưng kiến trúc có sức sống, có hấp dẫn hay không thì còn tùy ở chủ nhân của nó?
 “Tiểu diệp lãm nhân thụ”

f

Vì sao nói hai công trình nghìn tỷ của hạ Long không sánh nổi 12 cây bàng lá nhỏ bên vỉa hè Cọc 5?

Biệt thự sinh đôi, song lập ở Cọc 5 ảnh hưởng kiến trúc hiện đại Bauhaus, thấp thoáng hình ảnh Villa Savoye của Le Courbusier hay Villa Tugendhat với phong cách tối giản của Mies van der Rohe. Bên ngoài, trông nó có vẻ của một chốn dừng chân để chủ nhân chuẩn bị xuống du thuyền và đi ra một chốn bồng lai ngoài vịnh. Có thể nói, bản thiết kế này sang trọng nhất con đường Trần Quốc Nghiễn.

Khác biệt hoàn toàn với phần còn lại của những công trình bên con đường mang tên một vị tướng khá mờ nhạt của thời Trần, kiến trúc này thoát bỏ, giũ bỏ hết những trụ cột sừng sững, phào, chỉ cầu kỳ, vòm cong điệu đàng cùng mái dốc lợp đá Aridoise hay những cổng lớn, dày đặc trang trí thép duy mỹ  của kiến trúc Pháp xưa cũ.

 

Kiến trúc kiệm lời. Ngôn ngữ tiết chế. Phối cảnh mạch lạc, cởi mở, thoáng đạt. Trụ cột, kết cấu ẩn khuất sau những mảng tường thẳng, phẳng và trắng. Tường kính lớn, giản đơn cho phép kiến trúc kết nối nhiều hơn với chung quanh. Nội thất, ngoại thất giao hòa và mở ra những khoảng nhìn rộng, đẹp.

 

Sự thú vị của hai biệt thự song lập này là có chung một khu vườn lớn được tôn lên khá cao phía sau. Có thể người ta sẽ tìm thấy bên dưới khu vườn là một thế giới riêng tư, biệt lập và an toàn cùng với phòng họp kín, hầm rượu, rạp xem phim mini hay những công trình kỹ thuật, hậu cần, dịch vụ khác.

 

Từ mặt cắt của bản thiết kế có thể người ta sẽ dễ nhận thấy hơn những nhịp chuyển động cao thấp của những vạt cỏ, bồn cây, lối đi hay nơi dừng nghỉ. Với một thảm cây đa dạng chủng loại, đa tầng, đa dụng, khu vườn khiến người quan sát lờ mờ cảm thấy nó như chợt hiện ra từ một phần tiếp nối của núi đồi Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong đâu đó phía sau lưng.

 

Không có cơ may tiếp kiến chủ nhân biệt thự, trong lúc muốn gọi tên cho kiến trúc này, chợt người viết được hàng cây bàng lá nhỏ phía trước biệt thự gợi ý, mach tứ. Đây là những cây bàng Đài Loan hiếm hoi và duy nhất của con đường Trần Quốc Nghiễn.

Loài cây này giống như cây bàng lá đỏ của Hà Nọi, cây si của Quảng Bình xưa cũ trong khảo cứu công phu của linh mục linh mục Léopold Michel Cadière (1869-1955), cây phi lao cảnh Nha Trang trong ghi chép Xứ Trầm hương của Quách Tấn hay cây Mưa- raintree của người Singapore nhập khẩu từ Nam Mỹ…

Đó là loại cây xanh đô thị có rất nhiều ưu điểm nhưng tiếc là chưa mấy phổ biến ở phía Bắc. Tuyệt nhất là, người Đài Loan định danh loại cây này bằng một khái niệm tuyệt hay: Tiểu diệp lãm nhân thụ-  Cây lá nhỏ nhưng ôm chứa và thấu cảm toàn bộ yếu tính, cốt khí, thần khí của cây.

Hy vọng sau khi gắn bó với đời sống của chủ nhân, kiến trúc song sinh này sẽ như đôi mắt trong sáng đang say ngắm, tận hưởng một Hạ Long biến ảo.

3 (2)